Tiền nhân đã cảnh tỉnh, nhưng không ai nghe
Mất bò mới lo làm chuồng, nước đến chân mới nhẩy, tiền nhân người Việt
đã cảnh tỉnh người đời từ ngàn xưa nhưng ngàn sau vẫn không sao thẩm
thấu được. Rồi đây còn dấu tích ngàn năm, trăm năm nào nữa chìm vào hư
vô thời gian, mất dấu luôn trong tâm cảm tâm thức thế hệ con cháu hậu
thế.
Người mình có câu "ăn cơm mới nói chuyện cũ".
Nhớ lại cách đây trên dưới hai thập kỷ, sau khi nàng Tô Thị Vọng Phu
thiên tạo bị người đời đánh mìn phá đá núi nung vôi, "động mạch núi"
giật đứt chân đế chênh vênh, lộn nhào từ đỉnh Tam Thanh xuống đám bụi
bờ, đã khiến cho nhiều người cầm bút từ Nam chí Bắc bức xúc lên tiếng
trên công luận. Họ tiếc nuối và muộn phiền. Họ trách dân sở tại thì ít,
trách hệ thống cơ quan quản lý di tích văn hóa lịch sử thì nhiều.
“Chết đói chết khát” và “chết sặc chết no”
Chỉ
một khối đá núi sau hàng vạn hàng vạn năm, tạc dáng hình người mẹ bồng
con tuyệt vọng chờ chồng được người Việt "huyền thoại hóa" bằng câu
chuyện cổ tích "vọng phu" và "trữ tình hóa "bằng bài ca dao quen thuộc:
"Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa- Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh- Ai lên xứ
Lạng cùng anh – Bõ công bác mẹ sinh thành ra em. . . ".
 |
"Nàng Tô Thị" sau khi được phục chế. Ảnh: Nam Trần/ An ninh thủ đô
|
Chỉ một khối đá núi vô tri mà được người Việt thổi hồn, trở nên đầy biểu
cảm, tương ứng cộng hưởng với số phận dân tộc gần như truyền kiếp bị
chiến tranh giặc dã, chia ly, đau khổ trong suốt trường kỳ lịch sử. Chỉ
một khối đá không còn hình dạng nguyên thủy nữa là lòng người đã buồn
lắm rồi, dư luận xã hội đã bất bình lắm rồi.
Nhớ lại mùa thu năm
ấy đi Lạng Sơn, được ngắm nàng Tô Thị trong màn mưa thu giăng giăng mới
thấy đất trời Việt non nước Việt có nhiều cảnh trí diệu ảo chừng nào,
và nàng Tô Thị đứng đầu non trong số đó.
Mà không muốn nghĩ đến
cái tượng xi măng được thế chỗ sau đó. Một lẽ giản đơn, nhân tạo không
thể thay thế cho sự vi diệu của tạo hóa. Người Việt thổi hồn cho đá núi
ngàn đời, thổi hơi ấm trái tim mẫn cảm nhân ái của họ vào đá núi vạn
niên chứ không thể thổi vào… tượng xi măng đắp trong chốc lát đôi ba
ngày!
Sau đó đến chuyện cây đa ngàn tuổi trên đất Cổ Loa cũng héo
rũ. Tương truyền cây được trồng từ đời Ngô Quyền xưng vương và đóng đô
trên đất thành Ốc huyền thoại năm 939 mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho
nước Việt sau hàng ngàn năm Bắc thuộc
Đầu tiên cây đa "chết đói
chết khát". Theo các cụ, người ta trùng tu đình Ngự Triều, bất cẩn đổ
xung quanh gốc cây hàng đống ngói vỡ, hàng đống gỗ mục, đặc biệt là "mùn
gỗ lim đắng lắm, độc lắm". Hàng năm trời, cây "bị chôn chân", không có
lấy một giọt nước mưa ngấm xuống gốc. Hết "chết đói chết khát" lại tiếp
đến thời "chết sặc, chết no".
Chả là trùng tu xong đình Ngự
Triều, thấy cây đa héo ngọn khô cành, như người già khô héo nằm chờ quy
tiên, người ta vội vã tháo dỡ đống ngói vỡ đống gỗ mục dầy hàng thước
quanh gốc, "cấp cứu" cho cây bằng cách đào xung quanh gốc rồi đổ hàng tạ
phân cứt chuột- các cụ lão nông gọi phân lân vón cục như thế, trộn với
đất phù sa, rồi cho khoan giếng bắt vòi rồng... cao su phun nước tưới
liên tục từ trên ngọn cao tưới xuống gốc. Một cụ cười buồn "Ấy thế là
cây chết no chết sặc!"
Một cụ khác còn kể thêm một chuyện thật hi
hữu: Người ta còn dùng loại bơm kim tiêm to bằng cổ tay hình như để tiêm
trâu, bơm hàng chục lít nước mía (không biết có . . .thả đá không?) vào
thân cây đa đang ngắc ngoải để "cải tử hoàn sinh"! Dùng nước mía cấp
cứu cây, chuyện thật như đùa, chỉ có ở xứ mình thời hiện đại.
Không
thấy cơ quan quản lý di tích, không thấy một cán bộ phụ trách trùng tu
di tích nào giải thích, giải trình lấy một lời, dù chỉ là vuốt đuôi
thôi. Kết cục "cây cao bóng cả" vào bậc nhất nước trùm phủ lên mái đình
Ngự Triều, mà có cụ kể đi bộ về đến cầu Đuống cách thành Ốc bẩy tám cây
số đã nhìn thấy tán cây xanh xa xa trồi lên một khung trời, tán lá ấy
bao bọc am Mị Châu- vĩnh viễn đi vào cổ tích!
Bắt đầu từ đá núi
Vọng Phu xứ Lạng, cây đa thành Ốc rồi không biết bao nhiêu "sự cố văn
hóa" nữa như chùa Trăm Gian, làng cổ Đường Lâm, trước đó là hai pho
tượng cổ "độc nhất vô nhị" chùa Tây Phương, chùa Phật Tích "không cánh
mà bay" khiến cho hai ngôi chùa nổi tiếng giảm cả giá trị v.v.. và v.v..
Lúc bấy giờ người ta mới thấy ngành quản lý văn hóa khuấy động phong
trào bảo vệ đi tích văn hóa trên . . . .truyền thông đại chúng!
Còn dấu tích ngàn năm, trăm năm nào nữa?
Mất
bò mới lo làm chuồng, nước đến chân mới nhẩy, tiền nhân người Việt đã
cảnh tỉnh người đời từ ngàn xưa nhưng ngàn sau vẫn không sao thẩm thấu
được. Rồi đây còn dấu tích ngàn năm, trăm năm nào nữa chìm vào hư vô
thời gian, mất dấu luôn trong tâm cảm tâm thức thế hệ con cháu hậu thế.
Chỉ vì sự bất cẩn vô trách nhiệm và quá thực dụng của con người hiện đại
trong thực tế hành xử, ứng xử với các giá trị văn hóa vật thể.
Còn có những cái mất vô hình đáng sợ hơn nhiều.
Ví
như giáo dục nhà trường bao nhiêu năm rồi, người ta chăm chăm dạy công
dân với những bài giảng cao xa, học trò đọc vanh vách nhưng chả hiểu mô
tê gì. Trong khi những bài đạo đức nói về tình cảm gia đình sinh động
tựa như quốc văn giáo khoa thư ngày xưa thì chẳng thấy đâu.
Bao
nhiêu con người thời hiện đại a- còng, ngành nào cũng có, cấp nào cũng
đầy, ứng xử, hành xử "với việc nước", "với người đời" tệ hại đến mức,
lãnh đạo hàng cộm cán cũng phải ra hầu tòa, khoác áo tội tù trước vành
móng ngựa. Biết đâu, nguyên nhân sâu xa đẩy họ từ cổng trường- qua đường
đời nhiều chông gai cạm bẫy- đến tòa án, chẳng phải vì lý do giáo dục
đã " lỡ quên" dạy họ làm người từ thuở còn thơ dại?
Dù có đến ba
phần tư trường phổ thông cả nước "đề từ" bằng khẩu hiệu to đùng "tiên
học lễ hậu học văn". Dù có đến hàng trăm bài văn bài thơ tuyển chọn đa
phần chỉ "chú trọng nội dung tư tưởng" giáo huấn tuyên truyền, gần như
không tính đến nghệ thuật ngôn ngữ Việt. Biết bao nhiêu tội đồ thời nay
đã đánh cắp các chuẩn mực đạo đức làm người tối thiểu, nên mất cắp cả
cuộc đời, thậm chí sinh mạng.
Những chuẩn mực đạo đức được đúc
kết thành ca dao tục ngữ từ ngàn xưa như những nét phác thảo tâm hồn
Việt, như diện mạo văn hóa tinh thần người Việt đã và đang có nguy cơ bị
"bầy sâu tham nhũng ăn hết".
Ngay cả Truyện Kiều, áng thơ tuyệt
vời, điểm son trên bản đồ văn hóa phi vật thể, cũng bị người ta cổ xúy
phá phách, rồi cho phép in ấn, phát tán tài liệu, cả người có học vị ca
ngợi hết lời ngay trong một hội nghị gọi là khoa học cấp tỉnh quê hương
cụ Nguyễn Du!
Không thể xem đấy là "chuyện nhỏ". Một tuyệt phẩm
văn chương cổ điển của dân tộc mà có học giả khả kính đã phải nhìn nhận:
"Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn", mà vẫn có
kẻ lăm le đánh bóng tên tuổi của mình bằng cái việc làm càn dỡ, xóa bỏ
mọi điển tích, điển cố văn học cổ và từ Việt cổ, thay hình đổi dạng hàng
ngàn câu thơ Kiều, biến thơ Kiều thành thứ thơ xẩm chợ hò vè thô lậu,
dị hợm "rất phản cảm" khiến dư luận văn hóa xã hội bất bình.
Những
hành xử văn hóa kiểu "dùi đục chấm mắm cáy" như thế rung thêm một tiếng
chuông báo động về cách ứng xử với di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể. Những di vật văn hóa vô hình và hữu hình tồn tại hàng ngàn năm,
hàng trăm năm có nguy từng bước, từng phần. . . . mất trắng trên xứ sở
Việt!
Đào Dục Tú
|