|
Xin hãy mở to mắt
Nguyễn Trung
15-06-2014
Tiếp theo những sự
kiện gây hấn liên tục từ mấy năm nay ở Hoa Đông và khu vực bãi san hô
Scarbourough, sự kiện giàn khoan HD 981 và việc Trung Quốc đang ráo riết xây
dựng các căn cứ nổi tại các bãi đá Gạc Ma, Chữ Thập thuộc nhóm các đảo Trường
Sa của Việt Nam (Trung Quốc đánh chiếm năm 1988) đánh đi một tín hiệu báo động
với các nước trong khu vực và cả thế giới: Trung Quốc đang bước vào thời kỳ
thực hiện quyết liệt khát vọng bá chiếm Biển Đông, với mục tiêu trước mắt trở
thành đế chế đại dương.
Toàn bộ bước đi nói
trên của Trung Quốc mở đầu một giai đoạn mới của quá trình thực hiện khát vọng
trở thành siêu cường vào khoảng giữa thế kỷ này. Với những tính toán dựa trên
thực tế là cục diện quốc tế sau chiến tranh Iraq (2003 -2010) đã chuyển sang
thế giới đa cực với nhiều diễn biến mới phức tạp, Trung Quốc trong nhiệm kỳ Hồ
Cẩm Đào (khóa 17 của ĐCSTQ 2007 – 2012) đã chủ trương kết thúc thời kỳ
giấu mình chờ thời , để chuyển sang thời kỳ thể hiện sức mạnh thực hiện
“giấc mơ Trung Hoa”, với những bước đi cứng rắn được xác định tại đại hội 18
của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thời Tập Cận Bình.
Trên thế giới sau
chiến tranh Iraq (2003 – 2010), nước Mỹ thời Obama từ nhiệm kỳ I đã chuyển mạnh
sang quan điểm chiến lược san sẻ trách nhiệm giữa các đồng minh trong những vấn
đề quốc tế và đề ra chiến lược trục xoay về Châu Á – Thái Bình
Dương để đối phó với sự lấn át ngày càng leo thang của Trung Quốc đang uy hiếp
các nước láng giềng trong khu vực. Trong bối cảnh tình hình rất phức tạp ở
Ukraina, việc Nga sáp nhập Crimea (04-2014) là bước mở đường đưa đế chế Nga trở
lại chính trường quốc tế. Đồng thời với sự kiện Crimea, hợp tác Nga – Trung qua
chuyến đi Trung Quốc của Putin tháng 05-2014 đã tạo ra một dạng tập hợp lực
lượng mới đối phó lẫn nhau giữa các “cực” lớn trên thế giới. Động thái này mang
lại nhiều lợi thế mới cho Trung Quốc để (a) khai thác những cơ hội mới đang
đến, và (b) để phát huy lợi thế tương đối do sức mạnh áp đảo tại chỗ trong khu
vực Đông Nam Á.
Cũng khoảng một thập
kỷ nay các nước phương Tây nói chung đang phải trải qua một thời kỳ thay đổi
quyết liệt cấu trúc kinh tế, phải xử lý nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình
toàn cầu hóa kinh tế nói chung và trong những biến động mới của địa kinh tế và
địa chính trị của cục diện quốc tế hôm nay nói riêng. Nói một cách đơn giản, Mỹ
và các nước phương Tây đang ở trong thời kỳ rất bận rộn với chính bản thân
mình. Trong khi đó sự phụ thuốc lẫn nhau ở phạm vi toàn cầu ngày càng phức tạp
hơn, xử lý vấn đề nào cũng vướng phải tình trạng rút dây động rừng (dẫn chứng rõ
nét nhất là Mỹ và phương Tây có nhiều lợi ích đối kháng với lợi ích của Nga và
Trung Quốc, nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau – nhất là trong kinh tế – giữa tất cả
các đối thủ này vẫn ngày càng lớn). Trung Quốc bất chấp đạo lý và luật pháp
quốc tế, cũng không quan tâm đến trách nhiêm là nước lớn, luôn luôn theo đuổi
cách hành xử “mục tiêu biện minh cho biện pháp”, do đó đang khai thác tốt nhất
những rối ren trên thế giới.
Mấy tháng gần đây lại
nổi lên thánh chiến của lực lượng Nhà nước Hồi giáo và Cận Ðông (ISIL) có mối
liên hệ mật thiết với mạng lưới al-Qaeda và Taliban. Diễn biến mới này chẳng
những có nguy cơ nhấn chìm Iraq trong nội chiến, mà đang cùng với những biến
động phức tạp ở Ai-cập và Syrie có thể đảo ngược tình hình toàn khu vực Trung
Đông với những hệ quả khó đoán trước. Mỹ và phương Tây đang rất lúng túng. Tình
hình nghiêm trọng đến mức Iran – vốn là “kẻ thù nguy hiểm” của Mỹ và Iraq – đã
tuyên bố sẵn sàng hợp tác với Mỹ và Iraq trong việc đẩy lùi phiến quân thánh
chiến ISIL, kể cả việc đưa quân vào Iraq. Đương nhiên, những diễn biến mới này
đang tạo ra tình hình “đục nước béo cò” cho các đối thủ ngoài cuộc.
“Con cò ngoài cuộc”
lớn nhất hiện nay đang là Trung Quốc.
Nhờ vào tận dụng các
lợi thế riêng và triệt để khai thác quá trình toàn cầu hóa, kinh tế Trung Quốc
dù nhiều khuyết tật thế nào đi nữa vẫn đang có tốc độ tăng trưởng cao nhất
trong số tất cả các cường quốc, có khả năng trở thành nền kinh tế có quy mô GDP
lớn nhất hành tinh vào giữa thế kỷ 21, vô luận cái giá nhân dân Trung Quốc và
các nền kinh tế khác phải trả như thế nào cho sự phát triển này. Với dự trữ
ngoại tệ hiện nay khoảng 4000 – 4500 USD (lớn nhất thế giới, gấp khoảng 20 lần
của Mỹ, khoảng gấp 3 Nhật, gấp 4 khối EU…), với ngân sách quốc phòng từ hơn một
thập kỷ nay tăng 2 con số, Trung Quốc đang tạo ra cho mình một lực lượng quân
sự có thế mạnh áp đảo tại chỗ so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Cục diện quốc tế nói
trên, bối cảnh cụ thể của khu vực Đông Nam Á hiện nay, và đòi hỏi bên trong
cùng với tiềm lực Trung Quốc đã tích tục được, đấy là ba nguyên nhân chủ yếu
dẫn tới kết thúc thủ đoạn giấu mình chờ thời , để từ những năm
gần đây chuyển hẳn sang giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông.
Cái nền làm cơ sở cho
quyết định của Trung Quốc trên Biển Đông cho thấy:
(a) sự kiện giàn khoan
HD 981 là một bước đi có tính toán kỹ lưỡng trong toàn bộ chiến lược lớn của
Trung Quốc, cố khai thác tối đa những diễn biến mới trong cục diện đa cực rất
phức tạp của bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay;
(b) sự kiện giàn khoan
HD 981 cùng với việc ráo riết xúc tiến xây dựng các căn cứ quân sự nổi ở Gạc Ma
và Chữ Thập nằm trong tổng thể ý đồ chiến lược mở ra thời kỳ mới quyết liệt
giành bá quyền trên Biển Đông;
(c) các lý do
(a) và (b) nêu trên cho thấy sự kiện giàn khoan HD 981 không phải là một hành
động đơn lẻ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và lãnh hải chống Việt Nam, mà là
một hành động mang tính chất xâm lược, nằm trong tổng thế chiến lược bá
chiếm Biển Đông;
(d) việc Trung Quốc
khăng khăng cự tuyệt đối thoại với Việt Nam để giải quyết hòa bình sự kiện giàn
khoan HD 981, xuyên tạc trắng trợn sự thật để chủ động tố cáo Việt Nam về sự
kiện này tại Liên Hiệp Quốc, ráo riết thực hiện những thủ đoạn ngoại giao hung
hăng khác trên các diễn đàn quốc tế (gần đây nhất là diễn đàn Shangri La 13)
cho thấy Trung Quốc đã chủ động vứt bỏ 4 tốt và 16 chữ trong quan hệ
với Việt Nam – vì đã sử dụng xong rồi.
Đến đây có thể rút ra
nhận định: Cùng với việc mở đầu thời kỳ quyết liệt thực hiện khát vọng bá chiếm
Biển Đông, Trung Quốc còn chủ động tạo ra những yếu tố đối kháng mới trong quan
hệ với Việt Nam. Liên quan đến sự kiện giàn khoan HD 981, có thể xem việc kích
động bạo loạn trong những ngày 13 và 14-05-2014 cướp phá khoảng 800 xí nghiệp
của Việt Nam có FDI tại 22 địa phương, gây cho phía Việt Nam nhiều thiệt hại
rất lớn về kinh tế và chính trị là dẫn chứng mới nhất của những yếu tố đối
kháng này trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Việt Nam. Hiển
nhiên Trung Quốc đã chuyển quan hệ song phương giữa hai nước sang một thời
kỳ quyết liệt mới.
Trong khi đó nước ta
như thế nào và đang đứng ở đâu?
Bước vào năm độc lập
thống nhất đất nước thứ 40, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của Việt Nam
đã tạo ra những bước phát triển ban đầu, với kết quả trở thành nước có thu nhập
trung bình – đúng ra phải nói là nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng tình
hình cho thấy mặc dù sự nghiệp công nghiệp hóa của Việt Nam trong 3 thập kỷ vừa
qua đã huy động được một nguồn lực có mọi nguồn gốc khác nhau lớn khoảng gấp
đôi của Hàn Quốc cho thời kỳ này (cũng khoảng 3 thập kỷ: 1960 – 1990), nhưng
Việt Nam không thể hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020. Hiện nay Việt Nam
vẫn là một nước nghèo, năng suất lao động thấp nhất trong khu vực, từ năm 2007
bước vào cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế rất trầm trọng, nợ nần lớn, hiện nay
vẫn đang tìm đường ra.
Trong khi đó chế độ
chính trị định hướng xã hội chủ nghĩa do ĐCSVN xây dựng lên cho đất nước độc
lập thống nhất hiện nay đã bị tha hóa của quyền lực biến thành chế độ toàn trị:
Đảng đứng trên nhà nước và pháp quyền, ngăn cấm tự do tư duy, tước đoạt nhiều
quyền của công dân đã ghi trong hiến pháp, quan liêu và tham nhũng nặng nề… Thể
chế chính trị hiện nay có nhiều bất công xã hội gay gắt, trấn áp dân tùy tiện,
nền giáo dục bị khủng hoảng trầm trọng, tệ nạn xã hội tràn lan. Một chế độ
chính trị như vậy cùng với thực trạng kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước
hiện nay có nhiều mặt xuống cấp nguy hiểm, phải nói về thực chất đã và đang
hình thành lên ở nước ta một ách nô dịch mới, kìm hãm sự phát triển của đất
nước.
Có thể nhận định: Thực
hiện đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước theo ý thức hệ định hướng xã hội chủ
nghĩa của ĐCSVN, Việt Nam đã kết thúc một giai đoạn phát triển thất bại (1975 –
2014). Nét nổi bật nhất của thất bại này là các thành tựu đạt được rất thấp so
với (a) vốn, công sức và thời gian đã bỏ ra, (b) so với tài nguyên thiên nhiên
và môi trường tự nhiên đã bị lấy đi, (c) so với cơ hội đất nước có được trong
quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, (d) so với mức sống, hạnh
phúc và các phúc lợi xã hội cũng như so với các quyền tự do dân chủ người dân
lẽ ra phải được hưởng.
Sau 40 năm phát triển
đầu tiên thời độc lập thống nhất, đến hôm nay Việt Nam chỉ có được một nền kinh
tế với cơ cấu lạc hậu, kết cấu hạ tầng kém phát triển, chất lượng nguồn nhân
lực thấp, năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế vốn đã thấp lại đang
giảm sút. Trong khi đó thể chế chính trị quá yếu kém và có nhiều bất cập. Việt
Nam đang đứng trước đòi hỏi sống còn phải chuyển sang một thời kỳ phát triển
kinh tế bền vững và phải có một thể chế chính trị pháp quyền dân chủ bảo đảm
tạo ra bước phát triển mới này của đất nước.
Yếu kém về kinh tế và
yếu kém của thể chế chính trị 40 năm qua không những lấy đi nhiều cơ hội phát
triển của Việt Nam, mà còn khiến cho Việt Nam chỉ giành được vị trí quốc tế
thấp và không phát huy được vai trò cần phải có của mình trong quan hệ quốc tế.
Thực tế này giảm thiểu đáng kể khả năng phát triển, khả năng hội nhập và khả
năng bảo vệ lợi ích của đất nước.
Đặc biệt đường lối gìn
giữ quan hệ đại cục với Trung Quốc trên cơ sở ý thức hệ mang lại cho đất nước
sự lệ thuộc toàn diện rất nghiêm trọng, tạo ra sự can thiệp nguy hiểm của quyền
lực mềm Trung Quốc vào đời sống mọi mặt của đất nước, kìm hãm sự phát triển của
đất nước như một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc. Thực tế cho thấy Việt Nam
càng kiên trì giữ “đại cục”, Trung Quốc càng lấn tới, 4 tốt và 16
chữ chỉ là chuyện lừa bịp. Việc Trung Quốc tự tay vứt bỏ 4 tốt và 16 chữ
chứng minh sự phá sản của các mối quan hệ giữa hai đảng (ĐCSVN & ĐCSTQ) và
hai nước (VN & TQ) dựa trên ý thức hệ. Thực ra đó chỉ là sự phá sản ý thức
hệ của ĐCSVN, sự phá sản của những ảo tưởng của ĐCSVN về Trung Quốc. Bởi vì
trên thực tế từ hơn nửa thế kỷ nay ĐCSTQ chỉ có ý thức hệ siêu cường Đại Hán
dưới cái tên gọi là CNXH đặc sắc Trung Quốc. Hiện nay tự tay Trung Quốc còn
đang gây ra những yếu tố đối kháng mới trong quan hệ với Việt Nam.
Toàn bộ những vấn đề
trình bầy trên cho thấy:
1) Từ một
thập kỷ nay thế giới đã chuyển sang cục diện đa cực với nhiều diễn biến rất
phức tạp tác động đến mọi quốc gia, đòi hỏi mọi quốc gia phải thay đổi để đối
phó; Trung Quốc đang ra sức khai thác tình hình này.
2) Từ
những năm gần đây Trung Quốc đã thực sự bước vào thời kỳ quyết liệt thực hiện
khát vọng bá chiếm Biển Đông, thách thức trực tiếp độc lập và chủ quyền của
Việt Nam, tích tụ những yếu tố đối kháng mới trong quan hệ với Việt Nam, tiếp
tục siết chặt hơn nữa sự lệ thuộc của Việt Nam để lũng đoạn.
3) Đường
lối xây dựng và bảo vệ đất nước 40 năm qua theo định hướng xã hội chủ nghĩa của
ĐCSVN cơ bản là thất bại, đòi hỏi Việt Nam bắt buộc phải chuyển sang một thời
kỳ phát triển bền vững và phải có một thể chế chính trị phát huy được quyền làm
chủ của nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ này.
4) Cục
diện mới hiện nay của thế giới và trong khu vực đang đặt ra cho Việt Nam nhiều
thách thức mới – nhất là trong mối quan hệ song phương Việt – Trung. Thực tế
khách quan này càng đòi hỏi: Để thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc của mình, Việt Nam nhất thiết phải tạo ra cho mình sự phát triển bền
vững với một thể chế chính trị phải có cho một quốc gia độc lập do nhân dân làm
chủ.
Đấy là bốn vấn đề sống
còn đặt ra cho đất nước ta hôm nay.
Tựu trung lại (a) đất
nước ta đang sống trong một thế giới có những thay đổi và thách thức rất gay
gắt của cục diện đa cực, (b) phải đối phó với một Trung Quốc bước vào thời kỳ
mới quyết liệt bá chiếm Biển Đông, (c) bản thân nước ta cũng đang đòi hỏi phải
có sự thay đổi triệt để để phát triển. Do đó có thể kết luận:
Đất nước ta dứt khoát
phải thoát ra khỏi sự kìm kẹp của ý thức hệ, vươn lên tự do dân chủ, để tìm đường đi vào một thời kỳ phát triển
mới trong một thế giới đã chuyển giai đoạn và trong tình hình Trung Quốc đang
đặt nước ta trước những thách thức mới.
Cho phép tôi kêu gọi:
Hễ là người Việt Nam, xin mỗi chúng ta hãy mở to mắt nhìn thẳng vào bốn vấn đề
sống còn như vậy đang đặt ra cho đất nước hôm nay, đòi hỏi đất nước ta phải
thay đổi toàn diện để giải quyết thành công.
Nhìn thẳng vào những
đòi hỏi khách quan và tất yếu như thế đang đặt ra cho đất nước, hy vọng mỗi
chúng ta sẽ quyết định được hành động của mình: Việt Nam nhất thiết phải
thay đổi, sống hay là chết!
Tác giả gửi cho viet-studies
ngày 15-6-14
|