|
Nguy cơ thừa hàng triệu đàn ông
Dự báo xấu nhất đến năm 2050, VN sẽ thừa 2,3 - 4,3 triệu đàn ông nếu không ngăn chặn được mức gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh.
|

Chênh lệch bé trai/bé gái liên tục tăng trong các năm qua - Ảnh: Thanh Tùng
|
Nhà giàu, học vấn cao “khát” con trai
| |
|
 |
Tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng
nới rộng như vậy sẽ dẫn đến những hệ lụy nhiều nam giới sẽ lâm vào cảnh
phạm pháp, cô đơn, trầm cảm, còn phụ nữ sẽ chịu nguy cơ bị cưỡng bức,
buôn bán. Ngoài ra, cũng cần xét đến nguy cơ thừa nam cũng là yếu tố gia
tăng xu hướng đồng tính nam
|
 |
|
|
Ông Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế
|
|
|
“Tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ trai/100 trẻ gái) bình thường là
104 - 106/100 nhưng năm 2013, tỷ số này lên đến 113,8 bé trai/100 bé
gái; 6 tháng đầu năm 2014 tiếp tục nhích hơn 114 bé trai/100 bé gái”.
Thông tin trên được ông Phạm Năng An, Phó vụ trưởng Vụ Cơ cấu và chất
lượng dân số, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), cho
biết tại buổi họp báo về chiến dịch truyền thông giảm mất cân bằng giới
tính khi sinh do Tổng cục DS-KHHGĐ tổ chức ngày 23.9 tại Hà Nội.
Theo số liệu công bố tại cuộc họp, tỷ số giới tính cao nhất tại vùng
đồng bằng sông Hồng với 115,4/100; tiếp đến là trung du và miền núi phía
bắc (108,4) và duyên hải miền Trung (109,8). Tỷ số này thấp nhất ở vùng
Tây nguyên 105,6 (tương đương với mức bình thường). Còn tại Đông Nam bộ
và đồng bằng sông Cửu Long là 110 - 110,1.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng nguyên nhân lớn nhất dẫn
đến việc lựa chọn sinh con trai phụ thuộc rất nhiều vào tâm lý, nó là
vấn đề xã hội chứ không chỉ phụ thuộc điều kiện kinh tế. Ông Tiến dẫn
chứng: Tại TP.HCM, các điều kiện về y tế cho lựa chọn giới tính khi
sinh, chẩn đoán sớm giới tính khi sinh cũng như điều kiện kinh tế đều
cho phép. Thậm chí nhiều kỹ thuật ứng dụng tại TP.HCM thực hiện trước Hà
Nội nhưng tại TP này và các tỉnh lân cận, mức chênh lệch bé trai/bé gái
thấp hơn hẳn so với vùng đồng bằng sông Hồng. “Thậm chí, phụ nữ ở vùng
này còn có xu hướng lười sinh, với số con trung bình/phụ nữ tuổi sinh đẻ
tại TP.HCM, Long An, Hậu Giang, Cần Thơ thấp hơn so với mức trung bình
cả nước với 1,3 - 1,6 con/phụ nữ tuổi sinh đẻ”, ông Tiến cho biết.
| |
|
|
Ngoài TQ, nhiều nước châu Á cũng bị mất cân
bằng giới tính khi sinh. Điển hình là Ấn Độ với tỷ lệ 112 nam/100 nữ.
Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng này là gánh nặng của hồi môn của
những gia đình có con gái lấy chồng. Gia đình càng “cao quý” thì của
hồi môn cho con gái càng phải lớn để chứng tỏ được “đẳng cấp”. Ngoài
châu Á, nhiều nước Đông Âu và Đông Nam Âu cũng bị mất cân bằng giới tính
(từ 110 - 117 nam/100 nữ) do quan điểm trọng nam khinh nữ, như
Azerbaijan, Armenia, Albania, Georgia. Ngay cả các nước Tây và Nam Âu
như Anh và Ý cũng ghi nhận sự mất cân bằng nam/nữ ở cộng đồng người nhập
cư Ấn Độ, TQ...
Lan Chi
|
|
|
Các điều tra vừa qua cũng cho thấy, các cặp vợ chồng có trình độ học
vấn càng cao thì tỷ số giới tính khi sinh cũng tăng lên. Cụ thể, tỷ số
giới tính khi sinh trong nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số chỉ ở mức 105,9
(mức bình thường), trong khi ở nhóm phụ nữ làm việc trong khu vực công,
số bé trai/bé gái được sinh ra tăng lên đến 112,4/100. Hay ở nhóm phụ nữ
có trình độ cao đẳng, tỷ số bé trai/bé gái chênh lệch lên đến
113,9/100. Trong khi đó, ở nhóm các bà mẹ không biết chữ, trình độ tiểu
học thì tỷ số chênh lệch bé trai/bé gái thấp hơn hẳn: 107,4/100.
Thừa nam cũng là yếu tố gia tăng xu hướng đồng tính nam
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến khẳng định mất cân bằng giới tính
khi sinh đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Dự báo xấu nhất đến năm
2050, VN sẽ thừa 2,3 - 4,3 triệu nam giới nếu không ngăn chặn được mức
gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Theo ông Tiến, mức chênh lệch bé trai/bé gái đặc biệt cao tại một số
xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ số giới tính khi sinh là 150 bé
trai/100 bé gái. “Tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng nới rộng
như vậy sẽ dẫn đến những hệ lụy nhiều nam giới sẽ lâm vào cảnh phạm
pháp, cô đơn, trầm cảm, còn phụ nữ sẽ chịu nguy cơ bị cưỡng bức, buôn
bán. Thậm chí còn nguy cơ kết hôn cận huyết thống do nữ thanh niên bị
ngăn cản kết hôn với người bên ngoài làng, xã. Ngoài ra, cũng cần xét
đến nguy cơ thừa nam cũng là yếu tố gia tăng xu hướng đồng tính nam”, ông Tiến lo ngại.
Ông Tiến cũng cho rằng, tính khả thi của các biện pháp xử phạt đơn
vị, cá nhân lựa chọn giới tính khi sinh là rất thấp, chưa hiệu quả bởi
vì không bắt được quả tang, họ thực hiện với nhiều hình thức kín đáo.
Ông Nguyễn Văn Tân, Phó tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ,
cho biết thêm trong 3 - 4 năm qua, mới chỉ có 2 - 3 vụ việc siêu âm lựa
chọn giới tính khi sinh bị xử phạt. Trong khi thực tế phần lớn các cặp
vợ chồng ở TP biết giới tính của con mình trước khi sinh. “Tới đây sẽ có
chính sách hỗ trợ phụ nữ vùng nghèo, sinh con theo đúng chính sách sẽ
được hỗ trợ một lần 2 triệu đồng. Nhưng việc đẩy mạnh truyền thông, thay
đổi nếp nghĩ, thay đổi tâm lý phân biệt con trai - con gái mới là yếu
tố quyết định để giảm việc lựa chọn sinh con trai, dẫn đến mất cân bằng
giới tính trong tương lai”, Thứ trưởng Tiến nhấn mạnh.
|
Hậu quả khó lường
TS Tine Gammeltoft, tác giả của nhiều báo cáo về mất cân
bằng giới tính tại VN, nhận định với Thanh Niên: “Trên thực tế, thậm chí
còn có nhiều bằng chứng con gái chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ còn tốt
hơn cả con trai. Nhưng về mặt định kiến chung, định kiến con trai là trụ
cột trong gia đình vẫn chưa thể được thay đổi trong ngày một ngày hai.
Do vậy, để thay đổi triệt để quan niệm của xã hội về vấn đề này, tôi cho
rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu chứng minh và hướng sự chú ý công
luận vào vai trò của người nữ trong gia đình. Chúng ta cần thêm những
bằng chứng cho thấy các gia đình không có con trai, chỉ sống với con
gái, thực ra vẫn đang sống rất tốt như thế nào”.
Các chuyên gia cũng cảnh báo, mất cân bằng giới tính có
thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng đối với phát triển KT - XH của đất
nước và ảnh hưởng tới cuộc sống của phụ nữ, nam giới, gia đình và cộng
đồng.
Một hệ quả khác của việc mất cân bằng giới là tỷ lệ người
đồng tính nam có thể gia tăng và nếu như định kiến xã hội, chính sách
pháp luật không điều chỉnh cho phù hợp để bảo đảm quyền lợi chính đáng
của cộng đồng này, hậu quả sẽ rất khó lường.
An Điền
|
|
Gánh nặng từ chính sách con một ở Trung Quốc
Chính sách con một được áp dụng từ năm 1979 tại Trung Quốc (TQ) đã dẫn đến nhiều vấn đề về xã hội học và nhân khẩu học.
Một trong
những hậu quả lớn nhất của chính sách này là mất cân bằng về giới tính
khi sinh. Do truyền thống xem trọng việc “nối dõi tông đường”, người TQ
vẫn mong muốn có con trai và khi chỉ được sinh 1 con, rất nhiều gia đình
đã chọn giải pháp phá thai khi xác định được thai nhi là bé gái. Theo
tờ Nhân Dân nhật báo, thống kê mới nhất cho thấy tỷ lệ nam/nữ ở TQ là
117,6/100, thậm chí ở nhiều địa phương còn lên đến 130/100. Trong khi
vào năm 1980, tỷ lệ này là 107/100, tức gần sát với “tỷ lệ tự nhiên”
(104 - 106/100).
Tính từ khi
bắt đầu chính sách con một đến nay, tại nước này, nam giới hiện đông hơn
gần 40 triệu người so với nữ giới. Trên thực tế, rất nhiều chuyên gia
TQ đã cảnh báo về tình trạng dân số già ở nước này. Cụ thể, một nhà
nghiên cứu thuộc ĐH Nhân dân TQ cho biết: “Nếu không gấp rút thay đổi,
đến giữa thế kỷ 21, TQ sẽ có dân số già nhất thế giới, với khoảng 100
triệu người trên 80 tuổi”.
Để giảm bớt
tình trạng mất cân bằng giới tính, TQ đã thực hiện nhiều chính sách để
khuyến khích các gia đình có con gái: hỗ trợ về bảo hiểm xã hội, cấp học
bổng... Bên cạnh đó, cuối năm 2013, Bắc Kinh cũng chính thức nới lỏng
quy định về con một: những cặp vợ chồng mà 1 trong 2 người là con một
thì có quyền sinh 2 con.
Lan Chi
|
Liên Châu
|