Chủ nhật, ngày 23/11/2014 lần đầu tiên một chương trình: “Du lịch Tìm về cội nguồn - Đạo Mẫu Việt” được tổ chức theo đề xuất của ông Nguyễn Mạnh Can - Nguyên phó Ban tổ chức TW Đảng, Giám đốc Trung tâm Văn hóa người cao tuổi. Tham gia đoàn có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, Trung tâm Văn hóa Trường Đại học công nghệ, Trung tâm Unesco Văn hóa gia đình và dòng họ Việt Nam, Ban Vận Động Thành Lập Hội đồng Họ Nguyễn Việt Nam... Hội đồng họ Đỗ Việt Nam cũng tham gia với tư cách khách mời và hướng dẫn đoàn.
Đoàn đã đến tham quan một số di tích là các địa điểm thờ phụng và miếu mộ các nhân vật được coi là Quốc tổ, Quốc mẫu của dân tộc Việt như Miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, gò Thiềm thừ ở phường Phú La, Hà Đông, nhà thờ Nguyễn tộc (Bách Việt Thiệu Tổ), khu mả Đế ở phường Phú Lương, Hà Đông, Đình Bình Đà ở xã Bình Minh, huyện Thanh Oai.
Buổi sáng Đoàn đã dâng hương nhà thờ Nguyễn tộc và nghe ông Nguyên Vân Liên- Trưởng tộc Nguyễn Vân giới thiệu khái quát về Ngọc phả Truyền thư ghi chép về tổ tiên Việt tộc.
Buổi chiều đoàn đến thăm Miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát và gò Thiềm thừ - Bát bộ Kim cương. Ông Đỗ Quang Hòa- PCT HĐHĐVN đã hướng dẫn đoàn dâng hương các vị Tổ họ Đỗ, tiếp theo đó thuyết trình với đoàn kết quả nghiên cứu và tôn tạo khu di tích trong những năm qua. Gợi mở một hướng nghiên cứu mới về Đạo Mẫu Việt Nam. Đoàn còn được bà con họ Đỗ Văn La dẫn đi thăm chùa Văn La và khu gò Quán Công …
Chuyến đi đã mở ra một hướng mới quảng bá lịch sử dân tộc đến công đồng, thông
qua kênh du lịch tìm về cội nguồn, trên nền các công trình nghiên cứu về Tổ tiên dân tộc Việt.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHUYẾN ĐI
Dâng hương tại nhà thờ Nguyễn tộc (Bách Việt Thiệu Tổ)
Thăm khu Mả Đế nơi thờ cúng các vua Hùng
ở Phú Lương
Mộ Kinh Dương Vương ở Phú Lương
Đình Bình Đà- thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân
Gò Tam Thai- Mộ Quốc tổ Lạc Long Quân
Giới thiệu về khu di tích họ Đỗ Việt Nam.
Gò Thiềm thừ- Mộ Tổ họ Đỗ Việt Nam
Chụp ảnh lưu niệm bên cây bồ đề nghìn năm ( cây di sản VN) trong khuôn viên chùa Vân La.
______________________________
Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt
nguồn từ đâu trong lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt ?
Đỗ Quang Hòa
Cùng với tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng
thờ thần, tín ngưỡng thờ Mẫu rất phổ biến, nhiều người gọi là Đạo thờ Mẫu. Tại các chùa ngoài chính điện thờ phật, bao giờ cũng có ban
thờ Mẫu và thờ các thánh trong Đạo Mẫu. Tại các đền phủ thì thờ các thánh trong
đạo Mẫu ở chính điện. Đạo Mẫu về cơ bản có hệ thống, lớp lang như sau:
Ngọc Hoàng Thượng Đế là ngôi thánh cao nhất, tuy nhiên trong
tâm thức dân gian Ngọc Hoàng có phần mờ nhạt, không được đề cao.Tam tòa Thánh
Mẫu tượng trưng cho trời, đất và nước, Tứ phủ Công đồng thờ Mẫu thượng Thiên, Mẫu thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa.
Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ. Mẫu Thượng
Thiên trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp gồm có: Pháp vân, Pháp Vũ, Pháp
Điện, Pháp Lôi, đó là 4 vị nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp liên quan
tới văn hóa Nông nghiệp lúa nước.
Những huyền thoại và huyền tích của Mẫu Thượng
Thiên đều có liên quan đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất
hiện muộn, theo các nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh
xuất hiện sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ XVI, thời Hậu Lê.
Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh còn
có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi, hay thành Địa Tiên
thánh Mẫu- Mẹ Đất, cai quản mọi đất đai và đời sống sinh vật. Bà
trở thành vị Thần Chủ của Đạo Mẫu được thờ cúng nhiều
nhất trong đạo Mẫu Việt Nam. Đền thờ Bà có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền
Sòng ở Thanh Hóa và Phủ Giầy ở Nam Định.
Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ: Mẫu trông coi
các miền rừng núi, gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú. Đền thờ Mẫu
Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ
(Bắc Giang - Hà Bắc) và Bắc Lệ ( Lạng Sơn).
Mẫu Thoải cai quản Thoải (thủy) phủ: Đó là vị
thần trị vì vùng sông nước, nữ thủy thần gắn với đời sống thủy sinh của dân tộc
Việt từ xa xưa, liên quan trực tiếp tới Thủy Tổ dân tộc Việt trong buổi đầu
dựng nước.
Mẫu Địa cai quản Địa phủ, trông coi mọi đất đai
và đời sống sinh vật.
Sau hàng Mẫu là Ngũ Vị Quan Lớn (hàng Quan),
đuợc gọi tên từ Quan Đệ Nhất đến quan Đệ Ngũ và Tứ Vị Chầu Bà, được coi là hóa
thân, phục vụ trực tiếp của Tứ Vị Thánh Mẫu. Tứ Vị Chầu Bà là đại diện cho Tứ
Phủ.
Dưới hàng Chầu là hàng ông Hoàng, được gọi theo
thứ tự từ ông Hoàng Đệ Nhất đến Hoàng Mười. Cũng như các Quan, Các ông Hoàng
đều có gốc tích là con trai Long Thần Bát Hải Đại Vương ở hồ Động Đình. Ở hàng
thấp nhất có Thập Nhị Vương Cô, Thập Nhị Vương Cậu.
Đạo Mẫu còn thờ Quan ngũ Hổ và Ông Lốt (Rắn):
nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía duới điện thờ Mẫu. Phía trên điện thờ
chính, có hình tuợng đôi Bạch Xà vắt ngang. Trong quan niệm dân gian, Hổ là vị
chúa cai quản vùng rừng núi, còn Rắn là thần ở nơi sông nước.
Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về thân
thế của các Mẫu. Ngoài Mẫu Thượng Thiên có xuất thân tiên giới (theo
truyền thuyết Mẫu Liễu Hạnh đã ba lần giáng sinh ở nước ta). Mẫu Thượng Ngàn và
Mẫu Thoải đều có nguồn gốc nhân thần. Mẫu Thượng Ngàn được coi là hiện thân của
Mỵ Nương Quế Hoa con vua Hùng Định Vương hoặc là hiện thân của nàng La
Bình con gái của Tản Viên Sơn Thánh và Công chúa Ngọc
Hoa.
Còn Mẫu Thuỷ (Thoải) gắn với truyền thuyết Kinh
Dương Vương đi tuần du, tới hồ Đông Đình ngài gặp người con gái sắc đẹp
tuyệt trần, con vua Long Vương hồ Đông Đình. Kinh Dương Vương lấy nàng làm vợ,
sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, Tổ tiên
Lạc Việt, từ Rồng, từ Nước.
Có truyền thuyết lại nói Mẫu Thoải không phải là
một bà mà là nhiều bà. Các bà đều là con của Lạc Long Quân, trong đó chọn được
ba người, giao cho quản lĩnh sông biển nước Nam. Một bà có hiệu là Thuỷ Trinh
Động đình Ngọc Nữ công chúa. Bà thứ hai có hiệu là Hoàng Hà Đan Khiết phu nhân.
Bà thứ ba là Tam Giang công chúa. Tam Giang nay là ngã ba Sà Yên Phong Bắc
Ninh.
Một truyền thuyết khác, do người pháp là Durant sưu tầm, kể
rằng ở vùng Tuyên Quang, có một hoàng tử con vua Đất là Kinh Xuyên, lấy vợ là
con gái Long Vương ở hồ Đông Đình, bà rất yêu chồng. Nhưng Kinh Xuyên lại lấy
vợ hai tên là Thảo Mai. Thảo Mai ghen ghét vợ cả, vu cáo vợ cả không chung thủy
với chồng. Bực tức, Kinh Xuyên đem bỏ vợ cả vào rừng. Ở trong rừng, bà vợ cả
được muông thú mang hoa quả nuôi sống. Một hôm có một Nho sĩ đi qua, bà nhờ Nho
sĩ viết thư gửi cho cha là Long Vương, bà được cứu thoát. Đề cao đạo đức của
bà, người đời tôn bà là Mẫu Thoải (Mẹ Nước) lập đền thờ ở Tuyên
Quang.
Tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ rất lâu đời, nhưng đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về đề tài này, nên chưa có sự thống nhất và hệ
thống.
Trong khi tìm tài liệu làm viết bài này, chúng tôi tìm thấy
trong “B¸ch
ViÖt téc ph¶”, phả họ Nguyễn ở Vân Nội, Thanh Oai,
Hà Tây viết khá chi tiết về cội nguồn dân tộc Việt, trong đó có phần liên
quan đến tín ngưỡng dân gian người Việt, cùng sự tích Tam tòa Thánh
Mẫu, Tứ phủ Công đồng và ngũ vị Tôn Ông trong Đạo Mẫu Việt Nam, để góp thêm tư
liệu vào đề tài này cũng xin trích dẫn ở đây:
Kinh Dương Vương là hậu duệ của vua Thần Nông, húy
Quảng (quốc sử viết Lộc Tục) tự Phúc Lộc. Sinh Lạc Long Quân, húy Khoản (quốc
sử viết Sùng Lãm) tự Phúc Thọ, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên gọi là Mỹ (Chúa
Trịnh Minh Khang Thái vương tặng tên đẹp là Căn Kỷ Công Chúa; Lê Từ đặt tên là
ích Khánh Long, tôn Bồ Tát). Bà ở Động Lăng Xương. Bà xin Hương Vân Cái Bồ Tát
ở tại Thanh Nguyên, huyện Sơn Du, Trường Sa châu, lại xin Mẫu Thượng ngàn (mẹ
chồng) trồng dâu ở vùng Tiên Châu tại huyện Bất Bạt, Sơn Tây cũ.
Truyền kế cho đời vua đều sinh ra ở Bản Châu cho nên lấy
châu này làm đất tổ 50 vị theo cha làm Thủy Thần, dưới dạng tái thế là Đức Ông
và làm Thành Hoàng. 50 vị theo về đền thờ các Thánh Mẫu gọi là Sơn Thần thổ
địa.
Long Quân tuổi cao về ở cùng các phi tần cung nữ lập trang
ấp ở Bảo Đà (Thanh Oai) mất ở đây. Còn Âu Cơ thì an táng tại Đồng Láng, trại
Bác Lãm, cải táng đặt trong chùa Tường Quang, Thượng Mạo.
Đời sau thờ 5 con trai của Kinh Dương Vương gọi là Ngũ vị
Tôn Ông, tứ vị chầu bà.
Năm người con của Kinh Dương Vương tôn hiệu:
–
Nguyễn Nghiêm = Thần Gió
–
Nguyễn Quyền =
Thần Mây
–
Nguyễn Bé =
Thần Mưa
–
Nguyễn Khoản =
Thần Sấm
–
Nguyễn Huề =
Thần Chớp
Tòa tượng Cửu Long ở các chùa- Đứng giữa tòa Cửu Long là tượng Hương Vân cái Bồ Tát
Đạo Phật:
Thờ ở Tam Bảo. Tượng Cửu Long: Tượng trưng cho thủy tổ cửu tộc và Hương Vân Cái
Bồ Tát; trên cùng là tượng tam thế, tượng trưng cho 8.000 La Hán, Nghĩa
Lĩnh Tiên Na - Tiên Đào tượng trưng nơi an táng tám vạn bốn ngàn vương mẫu, đất
Nghĩa Lĩnh.
Vua Kinh Dương Vương và 4 người con (gọi là Tứ phủ Công
Đồng).
Thập diện Minh Vương và một số tượng khác gọi là thập
bát Long Thần tượng trưng cho các vua Hùng.
Đạo Tiên chỉ khác về hình thức, còn cốt lõi thì đạo Tiên,
Phật và đạo Nho thờ giống nhau chỉ khác vài chi tiết mà thôi.
Tứ phủ thần linh:
Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Quốc Vương. Thứ tự:
+ Thiên phủ còn gọi là Đệ nhất: Cha mẹ Kinh Dương
Vương.
+ Đệ nhị phủ: Kinh Dương Vương và vợ là Mẫu thượng
ngàn (gọi là Nhạc phủ).
+ Đệ tam phủ: Lạc Long Quân và Âu Cơ ( còn gọi là Thủy
phủ).
+ Đệ tứ phủ: Khâm sai Hùng Quốc Vương trở xuống (gọi là đệ
tứ khâm sai).
Chỉ có con trưởng được thế cha. 50 con theo cha xuống cai
quản ở vùng biển và đều có tên hiệu chung là Lang Vương, khác với
tên hiệu chung của 50 con theo mẹ là Lang Quân. Một sự
phân biệt rõ ràng và không biết là có ý nghĩa gì ? (ĐT)
50 người theo mẹ lên núi được thờ làm Sơn thần (nghĩa là thờ
cùng với điện Mẫu). Tất cả đều có tên hiệu chung là Lang Quân:
Từ lúc mở ra nhà Hùng đến hết thời Hùng Vương có một trăm vị
thần núi, thần sông biển. Gọi là một bọc trăm con bởi không phải sinh cùng một
lúc, mà sinh ra trong khoảng 2622 năm qua nhiều thế hệ. Như vậy trong Phả đã
bảo cho ta biết nhà Hùng có một trăm ông vua qua 18 lần thay đổi vương triều
nhưng vẫn thống nhất đất nước được tôn hiệu là Hùng Vương. Còn các vị khác
không phải là người giữ vai trò thống nhất đất nước cho nên chỉ gọi là
Lang Vương, Lang Quân mà thôi. Ngoài ra các vua đều được tôn làm Đức Ông
bản thổ, thờ trong các chùa, đình, quán, Như vậy theo Phả trên các Mẫu và
ngũ vị quan lớn đều là Tổ tiên người Việt, Phả có rõ ghi ngày mất và
mộ phần các vị ở đâu. Cũng theo Phả trên Mẫu Thượng ngàn là Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà có tên húy là Ngoan là vợ của
Đế Minh, bị chồng bỏ bà mang con vào động Tiên phi (Hòa Bình) tu hành, dạy dân
làm điều thiện, bỏ điều ác và nuôi con là Lộc Tục trưởng thành sau nối ngôi vua
lấy hiệu Kinh Dương Vương. Đời sau tôn hiệu Bà là Hương Vân Cái Bồ Tát. Người
Mường ở Hòa Bình gọi Bà là Sơn trại Chúa Mường. Bà được
thờ ở Động Tiên phi và nhiều nơi khác.
Tượng Mẫu Âu Cơ tại Sùng Quang Tự ở Bình Đà, Hà Tây cũ
Mẫu Thoải là Mẫu Âu Cơ, có tên húy là Mỹ. Bà là
vợ Lạc Long Quân, cháu dâu Hương Vân Cái Bồ Tát. Bà là người hiền đức, kế nghiệp
mẹ chồng dạy dân chăn tằm dệt lụa. Đời chúa Trịnh tặng cho
Bà họ Ngô và mỹ tự “Thục đức đoan trang công chúa”, thụy là Căn Kỷ Công chúa.
Bà được thờ nhiều nơi. Ở chùa Sùng Quang Tự ở Bình Đà, Hà Tây có tượng thờ Bà
và tượng thờ Lạc Long Quân.
Phả còn chép vợ Kinh Dương Vương là bà Xích hậu
(hoàng hậu nước Xích Quỉ), có tên húy là Động Đình Tiên Nữ
(Hồng ĐăngNgàn). Bà là con gái Động Đình Quân, được dân gian tôn
làm Quốc mẫu- Ngọc Tỉnh Thần Nữ- nàng cả Đại Vương, còn gọi là Mẫu đệ nhị
thượng ngàn, được thờ ở đền Tiên Cát, Việt Trì Phú Thọ.
Nếu đúng như vậy, dường như có một nguyên lý Mẹ trong văn
hóa người Việt: “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại cái mang”, sông cái,
đường cái, cột cái, ngón cái, trống cái, thúng cái. Gần đây có thêm các khái
niệm Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam anh hùng...Với ý thức sâu nặng nhớ về cội nguồn,
cùng tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẹ thuần Việt đã trở thành Đạo
thờ Mẫu thuần Việt. Đạo Mẫu ngoài các nghi lễ thờ
cúng còn tích hợp nhiều giá trị văn hóa- nghệ thuật- diễn xướng dân gian đặc
sắc, độc đáo và rất có giá trị trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt
Nam, cần được gìn giữ.
|