Thứ hai, 04/05/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Những điều cần biết khi thực hiện nghi thức cải táng phần mộ gia tiên: E-mail
31/01/2015

 Những điều cần biết khi thực hiện nghi thức cải táng phần mộ gia tiên:

Chọn lựa kiến trúc để mộ huyệt đón sinh khí giúp con cháu duy trì phúc vận

GiadinhNet - Hình dáng mộ sau khi cải táng có nhiều kiểu nhưng nhìn chung, cha ông chúng ta có câu truyền lại rằng: “Chết mộ dài - Cải táng một tròn” (tức là khi hung táng thì đắp mộ dài theo thân, khi cải táng thì đắp mộ hình tròn). Nghiên cứu kỹ lưỡng vấn đề này và soi rọi bằng những kiến thức địa lý mà cha ông chúng ta truyền lại, tôi thấy người xưa quả thật rất chí lý.

Sơ đồ vận hành khí của mộ tròn
Sơ đồ vận hành khí của mộ tròn

Chọn hình dáng mộ

Sau khi cải táng, người ta tùy theo điều kiện kinh tế gia đình mà thực hiện phần mộ phía trên. Có rất nhiều kiểu mộ: Hình chữ nhật, hình tròn, hình trứng ngỗng, hình mai rùa, hình lá sen, hình gáy ngựa (cổ ngựa, còn gọi là Mã Lạp), mộ nấp liếp, mộ trúc cách, long đình (giống như một chiếc kiệu, thường dùng cho các bậc quyền quý, lăng, tẩm - thường dùng cho những bậc đế vương). Theo lý thuyết Huyền Không phi tinh thì thông thường nếu đặt mộ dài hình chữ nhật, huyệt mộ có được vận cũng chỉ được nhiều nhất là hai vận liền nhau (40 năm) mà thôi. Thường hai vận tốt liền nhau là Đáo sơn đáo hướng và Toàn cục hợp thập. Sang đến vận thứ 3 thì hướng mộ này thường gặp phải Thượng sơn - Hạ thủy làm cho mất người, mất của (Tam nguyên cửu vận là chu kỳ 180 năm chia làm 3 nguyên và 9 vận. Ba nguyên là Thượng, Trung và Hạ, mỗi nguyên có 60 năm. Mỗi vận là 20 năm).

Theo GS. TS Nguyễn Tiến Đích thì khí gồm có âm khí và dương khí, sinh khí và tà khí. Đó là hai mặt đối lập cùng tồn tại khách quan của khí. Ta không nhìn thấy khí âm hay khí dương, không nhìn thấy sinh khí hay tà khí nhưng cảm nhận được nó. Vào một nhà mà thấy nóng quá thì đó là nhiều dương khí quá hoặc thấy khó thở thì có nghĩa là nhiều tà khí quá. Con người ta cần một môi trường sống cân bằng âm dương khí, nhiều sinh khí ít tà khí. Quan sát một ngôi mộ như ở hình 2 ta thấy, khi một dòng khí tác động vào nấm mồ, nó lập tức được phân ra: Tà khí (TK) nặng trọc lao xuống dưới (trực vô tình), còn sinh khí (SK) thanh nhẹ thì lượn theo dường cong hình khối của nấm mồ để thẩm thấu xuống dưới mộ (khúc hữu tình). Như vậy ngôi mộ này luôn được sinh khí nuôi, lại cân bằng âm dương khí, dưới mộ luôn được mát, làm cho hài cốt tươi lâu.

Ngược lại, ở ngôi mộ hình 3 ta thấy: Ngôi mộ này được xây tường xung quanh và lát kín trên mặt đã làm cho sinh khí không thẩm thấu được xuống mộ mà bay đi mất. Thành ra ngôi mộ này luôn bị mất sinh khí, lại bị nắng mặt trời nung nóng xung quanh làm cho dương khí luôn quá lớn, mất cả cân bằng âm dương khí. Ngôi mộ này chắc chắn hài cốt sẽ mau hoại. Từ đây cho thấy rằng, nấm mồ có cỏ xanh phía trên là rất cần thiết. Đó là phương tiện để nhận sinh khí và thải bớt tà khí và để cân bằng âm dương khí. Như vậỵ trên mộ cần phải có cỏ xanh là một yếu tố tiên quyết. Quan sát hình 4 ta thấy: Khi một dòng khí tác động vào thành mộ tròn thì phần tà khí (TK) sẽ tách ra lao xuống dưới. Còn sinh khí (SK) thì vừa chạy viền quanh đường cong thành mộ, vừa đổ vào mặt trên của mộ để thẩm thấu vào mộ theo mọi hướng. Như vậy mộ tròn có ưu điểm là nhận được nhiều sinh khí hơn là mộ xây hình chữ nhật. Quan sát một ngôi mộ xây hình chữ nhật như hình 5 ta thấy: Ngôi mộ này không có đường sinh khí bao quanh như ở mộ xây tròn vì mặt tường là mặt phẳng. Mặt khác, bức tường cao để đặt bia đã làm thoát mất sinh khí (SK2), không rơi xuống mặt mộ mà vượt qua mộ đi mất. Mộ này chỉ có thể thường xuyên nhận sinh khí (SK1) từ 3 hướng mà thôi. Như vậy, mộ có thể xây hình tròn hay hình chữ nhật đều được, nhưng xây tròn thì vẫn hơn. Có một nguyên tắc cần nhớ là trên mộ phải có cỏ xanh. Đó là cửa giao lưu thông thoáng âm dương, giúp cho mộ luôn nhận được sinh khí và cân bằng âm dương khí.

Ở một vài tỉnh miền Trung nước ta, nhân dân xây mộ không làm tường cao gắn bia mà đặt bia ngay trên thành mộ (hình 6). Ưu điểm của những mộ này là không cản đường sinh khí vào mộ. Mộ có thể nhận sinh khí từ mọi phía. Ở những mộ này bia được gắn trên thành mộ theo nguyên tắc: Người đứng lễ phía chân người chết phải nhìn thấy bia. Nghĩa là: Nếu gắn trên thành mộ thì bia gắn ở phía chân người chết (ngoài thành mộ). Còn gắn trên cao thì gắn phía đầu người chết (trong thành mộ). Qua phần phân tích về đường khi vào mộ như trên, ta thấy rằng hình dáng mộ hình tròn và trên mặt bằng phẳng là hình dáng không cản đường sinh khí vào mộ. Mộ này vừa đơn giản, đủ lịch sự, lại vừa phù hợp với quy luật vận hành khí của vũ trụ.

Vật liệu làm mộ

Tùy theo điều kiện cụ thể của gia đình mà người ta xây dựng mộ phần cải táng bằng nhiều vật liệu khác nhau như đắp đất, xây bằng gạch, lát đá xẻ hoặc làm bằng đá nguyên khối. Dưới đây là ưu, nhược điểm của các loại vật liệu:

Mộ đắp bằng đất: Đây là trường hợp những người quá nghèo, không thể làm mộ bằng những vật liệu tốt hơn nên chỉ đắp nấm bằng đất và cắm bia lên mộ để đánh dấu. Những nấm mộ này sau một vài chục năm thường bị mất nấm do con người cày bừa, canh tác qua đó hoặc do những dòng nước cuốn trôi đất đi nên mất dấu. Ngày nay ở các nghĩa trang làng quê, tình trạng mộ đắp đất bị mất nấm và trở thành vô chủ hay bị thất lạc vẫn còn rất nhiều. Vì vậy không nên làm mộ theo hình thức này.

Mộ xây gạch bên ngoài trát vữa: Đây cũng là một hình thức ít tốn kém mà mộ được xây bằng gạch, sau đó trát vữa lên như người ta xây nhà. Hình thức này được sử dụng khá phổ biến trong những thập kỷ 60-90 của thế kỷ trước. Ưu điểm của mộ này là khá chắc chắn và bền vững. Mộ xây kiểu này người ta có thể xây được rất nhiều hình thù bất kỳ tùy theo tục lệ ở các địa phương. Mộ xây gạch bên ngoài lát gạch men: Những ngôi mộ này cũng tương tự như những ngôi mộ xây bằng gạch và trát vữa, xong về hình thức thì coi trông đẹp hơn. Nhược điểm của loại mộ này là sau một thời gian, các mạch vữa sẽ bị chảy ra loang lổ và hay bị nứt gạch.

Mộ làm bằng đá xẻ: Hiện nay có khá nhiều chủng loại đá xẻ nội hay nhập ngoại. Đá xẻ thường dày khoảng 1,5 - 2 cm. Tùy theo loại đá mà có giá thành khác nhau. Thông thường người ta sử dụng loại đá xẻ tốt là loại đá kim sa (có hai loại hạt to và nhỏ), loại tốt là nhập từ Ấn Độ, Trung bình là đá xẻ của Bình Định, loại rẻ tiền là đá của Trung Quốc. Nhìn không có kinh nghiệm rất dề bị nhầm mặc dù giá thành của chúng khác nhau khá xa. Giá thành một ngôi mộ như vậy có thể giao động từ 15 - 25 triệu tùy theo chất lượng đá. Mộ loại này khá bền vững theo thời gian, độ bền màu ổn định, tuy nhiên vẫn còn hay bị loang lổ do xi măng ở các mối ghép. Ngày nay thợ đá có loại keo gắn đá thay xi măng nên khá ổn định và bền.

Mộ bằng đá nguyên khối: Có hai loại. Một là đá xanh của Thanh Hóa hay Ninh Bình, có giá thành khá rẻ, tùy theo kiểu dáng chế tác và tính theo mét khối mà khoảng vài chục triệu một ngôi mội. Loại đá này mềm nên dễ chế tác nhưng do nổ mìn khi khai thác nên đá dễ bị nứt. Tại làng nghề, người ta dấu rất khéo các vết nứt hay khiếm khuyết khi chế tác bằng một loại keo. Thứ hai là những loại đá bán quý như cẩm thạch, caxiđôn, mã não hay đá ngọc bích. Đây thường là những viên đá mồ côi có kích thước khá lớn. Đặc điểm của những loại đá này là có màu đẹp (xanh hoặc đen), độ cứng rất lớn, nhiều vân đẹp hay tuyền một màu và không hề có vết nứt. Loại đá này gần như vĩnh cửu theo thời gian nhưng giá thành rất cao.   

Gia Khang (ghi)

 
 

Giới hạn độ sâu khi đào huyệt mộ để tránh nguy cơ đứt đoạn “long mạch”

GiadinhNet - Sau khi đã chọn được thời gian và vị trí, việc tiếp theo chính là tiến hành cải táng và di dời mộ sang cuộc đất mới. Trong quá trình này, yếu tố phong thủy vẫn rất quan trọng, đặc biệt là tính toán độ sâu khi đặt mộ. Thường thì trong lòng đất sẽ có những nơi hội tụ nhiều sinh khí, đặt hài cốt đúng vị trí này là tốt nhất, giúp người chết an nghỉ ngàn thu cũng như mang lại phúc lành cho con cháu.

Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Hùng giúp một gia chủ phân kim điểm hướng
Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Hùng giúp một gia chủ phân kim điểm hướng

Những việc cần làm trước khi bốc mộ

Thông thường sau khi chọn được ngày bốc mộ, người ta cũng xem giờ bốc mộ cho thân chủ. Tùy theo giờ tốt mà bốc nhưng tất cả cùng phải tuân thủ một nguyên tắc chung là bốc mộ phải làm vào ban đêm. Việc này nhằm tránh cho xương cốt gặp ánh sáng sẽ bị đen đi. Khi bốc mộ, người ta thường đào lớp đất ở phía trên trước, sau đó đúng giờ tốt mới bắt đầu mở tấm ván thiên (tấm ván trên nóc quan tài). Trước khi tiến hành bốc mộ, người nhà phải có làm một cái lễ tại gia tiên để trình báo tổ tiên. Tại nơi bốc hài cốt ngoài nghĩa trang cũng phải có một cái lễ trình Quan Thần Linh sở tại. Thông thường là một bộ đồ Quan Thần Linh (áo, mũ, ủng), ngựa và 1000 vàng hoa màu đỏ, giấy tiền vàng bạc, trầu cau, rượu, thuốc, đèn nến, gạo muối. Nhiều nhà còn cúng thên tam sên (trứng vịt luộc, thịt lợn luộc và một nhúm tôm khô bóc vỏ), xôi, gà trống luộc nguyên con...

Vật dụng cần thiết cho quá trình bốc mộ là một cái tiểu sành, một cái quách đặt làm sẵn, một miếng vải đỏ (tốt nhất là mua thêm một tấm “mền Quang Minh”, có bán tại khu vực chùa Quán Sứ giá khoảng 80.000 đồng), một vài tấm ni lông, giấy trang kim, một tấm bạt và chiếc bàn thấp để làm lễ, vài chai rượu nặng và vài chục lít nước vang. Một vài cái xô, chậu nhựa để rửa xương. Người ta cũng chặt sẵn một vài đoạn thân cây chuối dùng để cắm nhang. Phần lớn việc bốc mộ diễn ra vào lúc nửa đêm, tuy nhiên tốp thợ thường phải thức trọn đêm cùng gia chủ làm công việc chuẩn bị như cúng bái và chuyển hài cốt sang mộ mới. Trung bình để bốc xong một ngôi mộ, mỗi tốp thợ phải làm việc liên tục hơn một tiếng đồng hồ. Trước khi đào, họ phải xác định vị trí huyệt thật chính xác, nhiều ngôi mộ do chôn thời gian lâu, quá trình tu sửa bị sai lệch vị trí so với ban đầu, nếu không biết cách sẽ phải đào rất vất vả, có khi đào nhầm sang mộ bên cạnh. Công việc bốc mộ thường là do những người chuyên môn bốc mộ đảm nhiệm. Khi ván thiên được cậy ra, người ta phải đổ vài chai rượu có nồng độ cao vào quan tài để tảy rửa âm khí, cũng nhiều nơi người ta dùng một cây chổi to làm bằng lá hương nhu đốt cháy và khua xung quanh quan tài để trừ âm khí. Sau đó mới tiến hành lấy cốt. Nhiều khi gặp trường hợp hài cốt chưa phân hủy hết, người ta phải dùng  dao dóc những mảnh thịt còn lại và đem rửa bằng nước vang. Sau khi nhặt hết cốt, rửa sạch thì trải tấm ni lông hay giấy trang kim ở dưới, tấm vải đỏ ở trên và lần lượt xếp xương theo thứ tự của người. Riêng sọ phải dùng trà hoặc vải kê để cho mặt hướng lên trên. Những người bốc mộ có kinh nghiệm phải biết cài 2 ống xương chân theo chiều dọc tiểu thật chắc chắn rồi mới tới 2 ống xương tay, xương sườn phải xếp thành vòng cung.  Mọi thứ xương phải kiểm tra cho đủ, không được phép thiếu. Sau khi hoàn tất, người ta phủ tấm “mền Quang Minh” lên trên và đóng nắp tiểu lại. Từ khi đóng nắp tiểu lại thì không được mở nắp ra nữa vì sợ ánh sáng lọt vào.

Tính toán độ sâu đặt mộ

Trước khi đặt mộ phải tiến hành phân kim điểm hướng để chọn hướng tốt nhất. Tuy nhiên đây là công việc phức tạp cần sự hiểu biết của nhà phong thủy. Vì vậy ở đây chỉ xin nói về việc tính toán độ sâu khi đặt mộ. Trong phong thủy âm trạch chia ra các kiểu huyệt như sau:

Thạch huyệt: Là huyệt mộ ở trong đá, chọn chỗ đá mềm và ấm, dễ đào khoét hoặc chỗ đá có màu tím hay trắng thì được coi là “cát huyệt”. Nếu đất đá cứng, khô, lạnh lẽo thì là “hung huyệt”. Thạch huyệt mềm, khoét sâu 20-30 cm (nhiều nhất là 40 cm), sau đó để tiểu vào và lấy đất liền thổ (đất tốt, sạch) lấp lại, cuối cùng là đắp thành nấm. Nếu khoét sâu quá sẽ bị thoát khí.

Thổ huyệt: Là huyệt mộ trong đất, chọn chỗ đất có chất mịn, hạt nhỏ, chắc chắn (nếu quá ẩm, thấp, tơi tả là hung). Chọn chỗ đất có màu hồng, màu vàng, có ánh kim là tốt. Lưu ý là huyệt phải đào sâu đến mạch khí mới tốt. Thổ huyệt gồm 3 loại đất: phù thổ, thực thổ, huyệt thổ. Phù thổ là lớp đất mặt trên cùng của huyệt mộ. Thực thổ là phần đất ở sau lớp phù thổ, ta hay gọi là đất liền thổ. Huyệt thổ là lớp đất dưới lớp thực thổ. Đây chính là vùng đất tích tụ sinh khí của Long mạch, quý báu như ngọc trong đá. Vì vậy khi đào huyệt nhất thiết phải đào đến lớp huyệt thổ nhưng cũng tuyệt đối không được đào xuyên qua lớp đất huyệt thổ. Lý do là vì lớp đất này tàng trữ sinh khí, nếu chưa đào đến lớp đất này thì chưa lấy được khí mạch rót vào huyệt, còn nếu đào xuyên qua sẽ làm tổn thương Long mạch, thậm chí cắt đứt Long mạch. Trường hợp đào xuyên qua thổ huyệt không còn là táng nữa mà chính là hiện tượng trấn yểm, cắt đứt Long mạch. Do vậy khi lấy chiều sâu của huyệt phải hết sức thận trọng, đòi hỏi phải có sự tinh thông về thổ huyệt.

Để phân biệt được thổ huyệt phải căn cứ vào loại Long mạch, màu sắc cũng như đường vân của thớ đất. Đường vân của thổ huyệt thường có nhiều dạng như hình thái cực, như vân của vỏ ốc, hoặc như lỗ vuông của đồng tiền cổ hoặc có những sợi ánh vàng, đỏ xen nhau. Khi đào đến huyệt thổ hoặc nghi ngờ đó là huyệt thổ, ta phải bốc một ít đất và dùng tay vê thử, nếu đất thành viên tròn thì đó chính là chân thổ, có thể cho đào sâu xuống nữa. Lưu ý cố gắng đào với diện tích hết sức nhỏ, chỉ vừa đủ đặt quách và tiểu là tốt nhất, đào lớn quá sẽ gây đứt Long mạch. Nếu đào tới độ sâu mà không thể vê đất thành viên được tức là lúc đó phần đất huyệt thổ đã hết. Như vậy chúng ta thấy rằng khi táng, quách phải nằm trọn trong lớp đất huyệt thổ và lỗ đào không quá lớn để không làm tổn thương Long mạch. Do vậy, người ta cũng không có công thức chung cho độ sâu của huyệt mộ, chỉ có thể ngồi tại chỗ và quan sát các tầng đất để có thể đặt quách và tiểu nằm lọt vào trong lớp đất huyệt thổ. Thông thường làm mộ đúng trong thời gian từ Trung Thu đến ngày Đông Chí thì lớp đất huyệt thổ chỉ còn sâm sấp một lớp nước mỏng (trừ trường hợp riêng biệt như tôi từng gặp vừa rồi, do người ta tát cả một cái hồ lớn và xả nước ra khu vực mộ).

Một số lưu ý quan trọng khi xây mộ

Khi xây dựng huyệt mộ, người ta chỉ xây ở xung quanh bằng gạch chỉ và phần dưới cùng, đất phải để nguyên đất huyệt thổ, không được trát vữa hay đổ bê tông vào lòng huyệt. Bởi làm như vậy sẽ ngăn cản địa khí không nhập vào huyệt mộ được. Dưới đáy huyệt phải đánh độ dốc khoảng 3 độ từ đầu tới chân (đầu cao hơn chân).

Khi đào huyệt mộ chẳng may gặp phải đất là huyệt hung táng đã cải đi rồi, tốt nhất là tránh ra chỗ khác. Trường hợp bất khả kháng, người ta phải đào hết đất cũ đi đến phần đất liền thổ rồi đặt quách và tiểu chìm hẳn vào lớp đất liền thổ đó. Sau khi lấp huyệt phải dùng đất sạch (tốt nhất là đất phù sa sông) để lấp. Kinh nghiệm của cá nhân tôi là trong quá trình lấp đất vào huyệt mộ, lớp đầu tiên dùng cát để cố định quách không cho dịch chuyển sau khi đã phân kim - điểm hướng. Lấp khoảng 1/3 chiều cao của quách mới cho đất mịn xuống tiếp cho đến khi ngang mặt trên của quách. Tiếp sau đó mới cho đất cục lớn và lấp dần tới cách mặt đất khoảng 40 cm. Lúc này phải cho một lớp cát có chiều dày khoảng 10 - 15 cm phủ lên trên. Mục đích của lớp cát này là để chống mối không cho ăn vào quách. Khi những con mối đào hang tới lớp cát sẽ bị cát sụt xuống làm sập lỗ đào, khiến con mối đó bị giữ lại và chết trong lớp cát đó. Lưu ý là sau khi hạ quách xuống, phải cho tấm bia cũ ở mộ hung táng xuống phía chân quách.     

Trên tiểu và quách, người ta thường làm những hoa văn phía đầu và chân khác nhau. Phía đầu có chữ Phúc hình tròn, phía chân chữ Phúc hình vuông. Dân gian thường nói: “Đầu tròn - Đít vuông” cho dễ nhớ. Vì vậy cần lưu ý điều này khi đặt tiểu vào trong quách và khi đặt quách xuống huyệt mộ để không bị nhầm lẫn

(Còn nữa…)

Gia Khang (ghi)



 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn