|
|
|
|
Những điều cần biết khi thực hiện nghi thức cải táng phần mộ gia tiên: |
|
|
31/01/2015 |
Những điều cần biết khi thực hiện nghi thức cải táng phần mộ gia tiên:
Chọn lựa kiến trúc để mộ huyệt đón sinh khí giúp con cháu duy trì phúc vận
GiadinhNet - Hình dáng mộ sau khi cải táng có nhiều
kiểu nhưng nhìn chung, cha ông chúng ta có câu truyền lại rằng: “Chết mộ
dài - Cải táng một tròn” (tức là khi hung táng thì đắp mộ dài theo
thân, khi cải táng thì đắp mộ hình tròn). Nghiên cứu kỹ lưỡng vấn đề này
và soi rọi bằng những kiến thức địa lý mà cha ông chúng ta truyền lại,
tôi thấy người xưa quả thật rất chí lý.
Sơ đồ vận hành khí của mộ tròn
Chọn hình dáng mộ
Sau khi cải táng, người ta tùy theo điều
kiện kinh tế gia đình mà thực hiện phần mộ phía trên. Có rất nhiều kiểu
mộ: Hình chữ nhật, hình tròn, hình trứng ngỗng, hình mai rùa, hình lá
sen, hình gáy ngựa (cổ ngựa, còn gọi là Mã Lạp), mộ nấp liếp, mộ trúc
cách, long đình (giống như một chiếc kiệu, thường dùng cho các bậc quyền
quý, lăng, tẩm - thường dùng cho những bậc đế vương). Theo lý thuyết
Huyền Không phi tinh thì thông thường nếu đặt mộ dài hình chữ nhật,
huyệt mộ có được vận cũng chỉ được nhiều nhất là hai vận liền nhau (40
năm) mà thôi. Thường hai vận tốt liền nhau là Đáo sơn đáo hướng và Toàn
cục hợp thập. Sang đến vận thứ 3 thì hướng mộ này thường gặp phải Thượng
sơn - Hạ thủy làm cho mất người, mất của (Tam nguyên cửu vận là chu kỳ
180 năm chia làm 3 nguyên và 9 vận. Ba nguyên là Thượng, Trung và Hạ,
mỗi nguyên có 60 năm. Mỗi vận là 20 năm).
Theo GS. TS Nguyễn Tiến Đích thì khí gồm
có âm khí và dương khí, sinh khí và tà khí. Đó là hai mặt đối lập cùng
tồn tại khách quan của khí. Ta không nhìn thấy khí âm hay khí dương,
không nhìn thấy sinh khí hay tà khí nhưng cảm nhận được nó. Vào một nhà
mà thấy nóng quá thì đó là nhiều dương khí quá hoặc thấy khó thở thì có
nghĩa là nhiều tà khí quá. Con người ta cần một môi trường sống cân bằng
âm dương khí, nhiều sinh khí ít tà khí. Quan sát một ngôi mộ như ở hình
2 ta thấy, khi một dòng khí tác động vào nấm mồ, nó lập tức được phân
ra: Tà khí (TK) nặng trọc lao xuống dưới (trực vô tình), còn sinh khí
(SK) thanh nhẹ thì lượn theo dường cong hình khối của nấm mồ để thẩm
thấu xuống dưới mộ (khúc hữu tình). Như vậy ngôi mộ này luôn được sinh
khí nuôi, lại cân bằng âm dương khí, dưới mộ luôn được mát, làm cho hài
cốt tươi lâu.
Ngược lại, ở ngôi mộ hình 3 ta thấy:
Ngôi mộ này được xây tường xung quanh và lát kín trên mặt đã làm cho
sinh khí không thẩm thấu được xuống mộ mà bay đi mất. Thành ra ngôi mộ
này luôn bị mất sinh khí, lại bị nắng mặt trời nung nóng xung quanh làm
cho dương khí luôn quá lớn, mất cả cân bằng âm dương khí. Ngôi mộ này
chắc chắn hài cốt sẽ mau hoại. Từ đây cho thấy rằng, nấm mồ có cỏ xanh
phía trên là rất cần thiết. Đó là phương tiện để nhận sinh khí và thải
bớt tà khí và để cân bằng âm dương khí. Như vậỵ trên mộ cần phải có cỏ
xanh là một yếu tố tiên quyết. Quan sát hình 4 ta thấy: Khi một dòng khí
tác động vào thành mộ tròn thì phần tà khí (TK) sẽ tách ra lao xuống
dưới. Còn sinh khí (SK) thì vừa chạy viền quanh đường cong thành mộ, vừa
đổ vào mặt trên của mộ để thẩm thấu vào mộ theo mọi hướng. Như vậy mộ
tròn có ưu điểm là nhận được nhiều sinh khí hơn là mộ xây hình chữ nhật.
Quan sát một ngôi mộ xây hình chữ nhật như hình 5 ta thấy: Ngôi mộ này
không có đường sinh khí bao quanh như ở mộ xây tròn vì mặt tường là mặt
phẳng. Mặt khác, bức tường cao để đặt bia đã làm thoát mất sinh khí
(SK2), không rơi xuống mặt mộ mà vượt qua mộ đi mất. Mộ này chỉ có thể
thường xuyên nhận sinh khí (SK1) từ 3 hướng mà thôi. Như vậy, mộ có thể
xây hình tròn hay hình chữ nhật đều được, nhưng xây tròn thì vẫn hơn. Có
một nguyên tắc cần nhớ là trên mộ phải có cỏ xanh. Đó là cửa giao lưu
thông thoáng âm dương, giúp cho mộ luôn nhận được sinh khí và cân bằng
âm dương khí.
Ở một vài tỉnh miền Trung nước ta, nhân
dân xây mộ không làm tường cao gắn bia mà đặt bia ngay trên thành mộ
(hình 6). Ưu điểm của những mộ này là không cản đường sinh khí vào mộ.
Mộ có thể nhận sinh khí từ mọi phía. Ở những mộ này bia được gắn trên
thành mộ theo nguyên tắc: Người đứng lễ phía chân người chết phải nhìn
thấy bia. Nghĩa là: Nếu gắn trên thành mộ thì bia gắn ở phía chân người
chết (ngoài thành mộ). Còn gắn trên cao thì gắn phía đầu người chết
(trong thành mộ). Qua phần phân tích về đường khi vào mộ như trên, ta
thấy rằng hình dáng mộ hình tròn và trên mặt bằng phẳng là hình dáng
không cản đường sinh khí vào mộ. Mộ này vừa đơn giản, đủ lịch sự, lại
vừa phù hợp với quy luật vận hành khí của vũ trụ.
Vật liệu làm mộ
Tùy theo điều kiện cụ thể của gia đình
mà người ta xây dựng mộ phần cải táng bằng nhiều vật liệu khác nhau như
đắp đất, xây bằng gạch, lát đá xẻ hoặc làm bằng đá nguyên khối. Dưới đây
là ưu, nhược điểm của các loại vật liệu:
Mộ đắp bằng đất: Đây là trường hợp những
người quá nghèo, không thể làm mộ bằng những vật liệu tốt hơn nên chỉ
đắp nấm bằng đất và cắm bia lên mộ để đánh dấu. Những nấm mộ này sau một
vài chục năm thường bị mất nấm do con người cày bừa, canh tác qua đó
hoặc do những dòng nước cuốn trôi đất đi nên mất dấu. Ngày nay ở các
nghĩa trang làng quê, tình trạng mộ đắp đất bị mất nấm và trở thành vô
chủ hay bị thất lạc vẫn còn rất nhiều. Vì vậy không nên làm mộ theo hình
thức này.
Mộ xây gạch bên ngoài trát vữa: Đây cũng
là một hình thức ít tốn kém mà mộ được xây bằng gạch, sau đó trát vữa
lên như người ta xây nhà. Hình thức này được sử dụng khá phổ biến trong
những thập kỷ 60-90 của thế kỷ trước. Ưu điểm của mộ này là khá chắc
chắn và bền vững. Mộ xây kiểu này người ta có thể xây được rất nhiều
hình thù bất kỳ tùy theo tục lệ ở các địa phương. Mộ xây gạch bên ngoài
lát gạch men: Những ngôi mộ này cũng tương tự như những ngôi mộ xây bằng
gạch và trát vữa, xong về hình thức thì coi trông đẹp hơn. Nhược điểm
của loại mộ này là sau một thời gian, các mạch vữa sẽ bị chảy ra loang
lổ và hay bị nứt gạch.
Mộ làm bằng đá xẻ: Hiện nay có khá nhiều
chủng loại đá xẻ nội hay nhập ngoại. Đá xẻ thường dày khoảng 1,5 - 2
cm. Tùy theo loại đá mà có giá thành khác nhau. Thông thường người ta sử
dụng loại đá xẻ tốt là loại đá kim sa (có hai loại hạt to và nhỏ), loại
tốt là nhập từ Ấn Độ, Trung bình là đá xẻ của Bình Định, loại rẻ tiền
là đá của Trung Quốc. Nhìn không có kinh nghiệm rất dề bị nhầm mặc dù
giá thành của chúng khác nhau khá xa. Giá thành một ngôi mộ như vậy có
thể giao động từ 15 - 25 triệu tùy theo chất lượng đá. Mộ loại này khá
bền vững theo thời gian, độ bền màu ổn định, tuy nhiên vẫn còn hay bị
loang lổ do xi măng ở các mối ghép. Ngày nay thợ đá có loại keo gắn đá
thay xi măng nên khá ổn định và bền.
Mộ bằng đá nguyên khối: Có hai loại. Một
là đá xanh của Thanh Hóa hay Ninh Bình, có giá thành khá rẻ, tùy theo
kiểu dáng chế tác và tính theo mét khối mà khoảng vài chục triệu một
ngôi mội. Loại đá này mềm nên dễ chế tác nhưng do nổ mìn khi khai thác
nên đá dễ bị nứt. Tại làng nghề, người ta dấu rất khéo các vết nứt hay
khiếm khuyết khi chế tác bằng một loại keo. Thứ hai là những loại đá bán
quý như cẩm thạch, caxiđôn, mã não hay đá ngọc bích. Đây thường là
những viên đá mồ côi có kích thước khá lớn. Đặc điểm của những loại đá
này là có màu đẹp (xanh hoặc đen), độ cứng rất lớn, nhiều vân đẹp hay
tuyền một màu và không hề có vết nứt. Loại đá này gần như vĩnh cửu theo
thời gian nhưng giá thành rất cao.
Gia Khang (ghi)
Giới hạn độ sâu khi đào huyệt mộ để tránh nguy cơ đứt đoạn “long mạch”
GiadinhNet - Sau khi đã chọn được thời gian và vị
trí, việc tiếp theo chính là tiến hành cải táng và di dời mộ sang cuộc
đất mới. Trong quá trình này, yếu tố phong thủy vẫn rất quan trọng, đặc
biệt là tính toán độ sâu khi đặt mộ. Thường thì trong lòng đất sẽ có
những nơi hội tụ nhiều sinh khí, đặt hài cốt đúng vị trí này là tốt
nhất, giúp người chết an nghỉ ngàn thu cũng như mang lại phúc lành cho
con cháu.
Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Hùng giúp một gia chủ phân kim điểm hướng
Những việc cần làm trước khi bốc mộ
Thông thường sau khi chọn được ngày bốc
mộ, người ta cũng xem giờ bốc mộ cho thân chủ. Tùy theo giờ tốt mà bốc
nhưng tất cả cùng phải tuân thủ một nguyên tắc chung là bốc mộ phải làm
vào ban đêm. Việc này nhằm tránh cho xương cốt gặp ánh sáng sẽ bị đen
đi. Khi bốc mộ, người ta thường đào lớp đất ở phía trên trước, sau đó
đúng giờ tốt mới bắt đầu mở tấm ván thiên (tấm ván trên nóc quan tài).
Trước khi tiến hành bốc mộ, người nhà phải có làm một cái lễ tại gia
tiên để trình báo tổ tiên. Tại nơi bốc hài cốt ngoài nghĩa trang cũng
phải có một cái lễ trình Quan Thần Linh sở tại. Thông thường là một bộ
đồ Quan Thần Linh (áo, mũ, ủng), ngựa và 1000 vàng hoa màu đỏ, giấy tiền
vàng bạc, trầu cau, rượu, thuốc, đèn nến, gạo muối. Nhiều nhà còn cúng
thên tam sên (trứng vịt luộc, thịt lợn luộc và một nhúm tôm khô bóc vỏ),
xôi, gà trống luộc nguyên con...
Vật dụng cần thiết cho quá trình bốc mộ
là một cái tiểu sành, một cái quách đặt làm sẵn, một miếng vải đỏ (tốt
nhất là mua thêm một tấm “mền Quang Minh”, có bán tại khu vực chùa Quán
Sứ giá khoảng 80.000 đồng), một vài tấm ni lông, giấy trang kim, một tấm
bạt và chiếc bàn thấp để làm lễ, vài chai rượu nặng và vài chục lít
nước vang. Một vài cái xô, chậu nhựa để rửa xương. Người ta cũng chặt
sẵn một vài đoạn thân cây chuối dùng để cắm nhang. Phần lớn việc bốc mộ
diễn ra vào lúc nửa đêm, tuy nhiên tốp thợ thường phải thức trọn đêm
cùng gia chủ làm công việc chuẩn bị như cúng bái và chuyển hài cốt sang
mộ mới. Trung bình để bốc xong một ngôi mộ, mỗi tốp thợ phải làm việc
liên tục hơn một tiếng đồng hồ. Trước khi đào, họ phải xác định vị trí
huyệt thật chính xác, nhiều ngôi mộ do chôn thời gian lâu, quá trình tu
sửa bị sai lệch vị trí so với ban đầu, nếu không biết cách sẽ phải đào
rất vất vả, có khi đào nhầm sang mộ bên cạnh. Công việc bốc mộ thường là
do những người chuyên môn bốc mộ đảm nhiệm. Khi ván thiên được cậy ra,
người ta phải đổ vài chai rượu có nồng độ cao vào quan tài để tảy rửa âm
khí, cũng nhiều nơi người ta dùng một cây chổi to làm bằng lá hương nhu
đốt cháy và khua xung quanh quan tài để trừ âm khí. Sau đó mới tiến
hành lấy cốt. Nhiều khi gặp trường hợp hài cốt chưa phân hủy hết, người
ta phải dùng dao dóc những mảnh thịt còn lại và đem rửa bằng nước vang.
Sau khi nhặt hết cốt, rửa sạch thì trải tấm ni lông hay giấy trang kim ở
dưới, tấm vải đỏ ở trên và lần lượt xếp xương theo thứ tự của người.
Riêng sọ phải dùng trà hoặc vải kê để cho mặt hướng lên trên. Những
người bốc mộ có kinh nghiệm phải biết cài 2 ống xương chân theo chiều
dọc tiểu thật chắc chắn rồi mới tới 2 ống xương tay, xương sườn phải xếp
thành vòng cung. Mọi thứ xương phải kiểm tra cho đủ, không được phép
thiếu. Sau khi hoàn tất, người ta phủ tấm “mền Quang Minh” lên trên và
đóng nắp tiểu lại. Từ khi đóng nắp tiểu lại thì không được mở nắp ra nữa
vì sợ ánh sáng lọt vào.
Tính toán độ sâu đặt mộ
Trước khi đặt mộ phải tiến hành phân kim
điểm hướng để chọn hướng tốt nhất. Tuy nhiên đây là công việc phức tạp
cần sự hiểu biết của nhà phong thủy. Vì vậy ở đây chỉ xin nói về việc
tính toán độ sâu khi đặt mộ. Trong phong thủy âm trạch chia ra các kiểu
huyệt như sau:
Thạch huyệt: Là huyệt mộ ở trong đá,
chọn chỗ đá mềm và ấm, dễ đào khoét hoặc chỗ đá có màu tím hay trắng thì
được coi là “cát huyệt”. Nếu đất đá cứng, khô, lạnh lẽo thì là “hung
huyệt”. Thạch huyệt mềm, khoét sâu 20-30 cm (nhiều nhất là 40 cm), sau
đó để tiểu vào và lấy đất liền thổ (đất tốt, sạch) lấp lại, cuối cùng là
đắp thành nấm. Nếu khoét sâu quá sẽ bị thoát khí.
Thổ huyệt: Là huyệt mộ trong đất, chọn
chỗ đất có chất mịn, hạt nhỏ, chắc chắn (nếu quá ẩm, thấp, tơi tả là
hung). Chọn chỗ đất có màu hồng, màu vàng, có ánh kim là tốt. Lưu ý là
huyệt phải đào sâu đến mạch khí mới tốt. Thổ huyệt gồm 3 loại đất: phù
thổ, thực thổ, huyệt thổ. Phù thổ là lớp đất mặt trên cùng của huyệt mộ.
Thực thổ là phần đất ở sau lớp phù thổ, ta hay gọi là đất liền thổ.
Huyệt thổ là lớp đất dưới lớp thực thổ. Đây chính là vùng đất tích tụ
sinh khí của Long mạch, quý báu như ngọc trong đá. Vì vậy khi đào huyệt
nhất thiết phải đào đến lớp huyệt thổ nhưng cũng tuyệt đối không được
đào xuyên qua lớp đất huyệt thổ. Lý do là vì lớp đất này tàng trữ sinh
khí, nếu chưa đào đến lớp đất này thì chưa lấy được khí mạch rót vào
huyệt, còn nếu đào xuyên qua sẽ làm tổn thương Long mạch, thậm chí cắt
đứt Long mạch. Trường hợp đào xuyên qua thổ huyệt không còn là táng nữa
mà chính là hiện tượng trấn yểm, cắt đứt Long mạch. Do vậy khi lấy chiều
sâu của huyệt phải hết sức thận trọng, đòi hỏi phải có sự tinh thông về
thổ huyệt.
Để phân biệt được thổ huyệt phải căn cứ
vào loại Long mạch, màu sắc cũng như đường vân của thớ đất. Đường vân
của thổ huyệt thường có nhiều dạng như hình thái cực, như vân của vỏ ốc,
hoặc như lỗ vuông của đồng tiền cổ hoặc có những sợi ánh vàng, đỏ xen
nhau. Khi đào đến huyệt thổ hoặc nghi ngờ đó là huyệt thổ, ta phải bốc
một ít đất và dùng tay vê thử, nếu đất thành viên tròn thì đó chính là
chân thổ, có thể cho đào sâu xuống nữa. Lưu ý cố gắng đào với diện tích
hết sức nhỏ, chỉ vừa đủ đặt quách và tiểu là tốt nhất, đào lớn quá sẽ
gây đứt Long mạch. Nếu đào tới độ sâu mà không thể vê đất thành viên
được tức là lúc đó phần đất huyệt thổ đã hết. Như vậy chúng ta thấy rằng
khi táng, quách phải nằm trọn trong lớp đất huyệt thổ và lỗ đào không
quá lớn để không làm tổn thương Long mạch. Do vậy, người ta cũng không
có công thức chung cho độ sâu của huyệt mộ, chỉ có thể ngồi tại chỗ và
quan sát các tầng đất để có thể đặt quách và tiểu nằm lọt vào trong lớp
đất huyệt thổ. Thông thường làm mộ đúng trong thời gian từ Trung Thu đến
ngày Đông Chí thì lớp đất huyệt thổ chỉ còn sâm sấp một lớp nước mỏng
(trừ trường hợp riêng biệt như tôi từng gặp vừa rồi, do người ta tát cả
một cái hồ lớn và xả nước ra khu vực mộ).
Một số lưu ý quan trọng khi xây mộ
Khi xây dựng huyệt mộ, người ta chỉ xây ở
xung quanh bằng gạch chỉ và phần dưới cùng, đất phải để nguyên đất
huyệt thổ, không được trát vữa hay đổ bê tông vào lòng huyệt. Bởi làm
như vậy sẽ ngăn cản địa khí không nhập vào huyệt mộ được. Dưới đáy huyệt
phải đánh độ dốc khoảng 3 độ từ đầu tới chân (đầu cao hơn chân).
Khi đào huyệt mộ chẳng may gặp phải đất
là huyệt hung táng đã cải đi rồi, tốt nhất là tránh ra chỗ khác. Trường
hợp bất khả kháng, người ta phải đào hết đất cũ đi đến phần đất liền thổ
rồi đặt quách và tiểu chìm hẳn vào lớp đất liền thổ đó. Sau khi lấp
huyệt phải dùng đất sạch (tốt nhất là đất phù sa sông) để lấp. Kinh
nghiệm của cá nhân tôi là trong quá trình lấp đất vào huyệt mộ, lớp đầu
tiên dùng cát để cố định quách không cho dịch chuyển sau khi đã phân kim
- điểm hướng. Lấp khoảng 1/3 chiều cao của quách mới cho đất mịn xuống
tiếp cho đến khi ngang mặt trên của quách. Tiếp sau đó mới cho đất cục
lớn và lấp dần tới cách mặt đất khoảng 40 cm. Lúc này phải cho một lớp
cát có chiều dày khoảng 10 - 15 cm phủ lên trên. Mục đích của lớp cát
này là để chống mối không cho ăn vào quách. Khi những con mối đào hang
tới lớp cát sẽ bị cát sụt xuống làm sập lỗ đào, khiến con mối đó bị giữ
lại và chết trong lớp cát đó. Lưu ý là sau khi hạ quách xuống, phải cho
tấm bia cũ ở mộ hung táng xuống phía chân quách.
Trên tiểu và quách, người ta thường làm
những hoa văn phía đầu và chân khác nhau. Phía đầu có chữ Phúc hình
tròn, phía chân chữ Phúc hình vuông. Dân gian thường nói: “Đầu tròn -
Đít vuông” cho dễ nhớ. Vì vậy cần lưu ý điều này khi đặt tiểu vào trong
quách và khi đặt quách xuống huyệt mộ để không bị nhầm lẫn
(Còn nữa…)
Gia Khang (ghi)
|
|
| |
|
|
|