|
DI TÝCH §ÒN THê QU¢N
C¤NG §ËU B¸ TOµN
Di tích lích sử văn hóa
Đền thờ quận Công ở xã Thanh Khê huyÖn
Thanh Ch¬ng tØnh NghÖ An được xây dựng cuối
thời nhà Nguyễn, là nơi thờ phụng quận Công Đậu Bá Toàn. một danh tướng đã lập
được nhiều công lao dưới triều Lê Trung Hưng. được triều Lê Trung Hưng và triều
nhà Nguyễn nhiều lần ban sắc phong.
Căn cứ các tài liệu
hiện còn lại di tích thần vị, sắc phong và gia phả lưu tại nhà thờ họ Đậu B¸(xóm 6, xã Thanh Chi,
Thanh Chương) và căn cứ gia phả các dòng họ tại địa phương.
«ng Đậu Bá Toàn sinh năm
Canh Tý 1720 dưới triều vua Lê Dụ Tông, thân sinh của ông Đậu Bá Tuấn quê ở xã
Như Kinh, huyện Gia Lâm, xứ Kinh Bắc (nay là huyện Gia Lâm đã nhập vào Hà Nội).
ông
từng giữ chức Bồi tụng rồi Tham tụng dưới triều vua Lê Dụ Tông (1706 - 1728)
«ng Đậu Bá Toàn được sinh
ra, lớn lên lúc cha đang là một đại thần trong triều nên có điều kiện ăn học,
giáo dưỡng tử tế. khi lớn lên ông tinh thông cả văn lẫn võ. nhưng do ham thích
binh nghiệp nên năm 20 tuổi (1740) ông đã gia nhập quân binh và được đứng trong
hàng ngũ của Quận Huy Hoàng Đình Bảo.
Đậu Bá Toàn là người tinh thông võ nghệ, bản
tính cương trực, giàu lòng thương dân, lại được sống ở giai đoạn lịch sử này,
dưới sự bảo trợ của một vị tướng tài ba, sắc sảo là Quận Huy Hoàng Đình Bảo,
nên ông đã có điều kiện tôi luyện, nâng cao võ nghệ, binh pháp và có nhiều cống
hiến cho đất nước.
Năm quý mùi 1763. triều nhà
Lê mở khoa thi võ để tuyển chọn nhân tài. Đậu Bá Toàn đã được
tham dự kỳ thi võ và đậu trong kỳ thi này. Sau khi thi đậu võ
sĩ, Đậu Bá Toàn được bổ chức đô Đốc
được phong tước Quận công.
Do lập được nhiều công trạng, đô Đốc quận công
Đậu Bá Toàn ngày càng được chúa Trịnh Doanh và triều thần tin dùng, quý trọng. Ông đã
được triều Lê phong tới chức "Thượng tướng quân
nam quân đô Đốc hữu phủ đô Đốc".
Năm Giáp Ngọ 1774, Quận
Huy Hoàng Đình Bảo (còn gọi là Tố Lý, Đăng
Bảo) và đô Đốc Đậu Bá Toàn được chúa Trịnh Sâm cử cấm quân về
trấn thủ Nghệ An.
Theo ghi chép của
lịch sử nhà lê thì Quận huy Hoàng Đình
Bảo là người có phép dùng binh gia truyền, khéo sắp đặt nhân tài nên các tay
hào kiệt đều vui lòng chịu sai khiến, tiếng tăm lừng lẫy.
Thời gian trấn trị ở
Nghệ An, ông đã ra sức tiêu diệt trộm cướp, cấm đổi tiền, trấn áp cường hào,
làm cho "trong hạt rất thịnh vượng". Mặt khác, ông còn thu
dụng những kẻ anh tài, đặt ra nhiều chức lệ thuộc. Dưới tướng của Quận Huy, đô Đốc
Đậu Bá Toàn được đặc cử trấn giữ vùng đất Thanh Giang thuộc phủ Đức Thọ (tức
Thanh Chương ngày nay), chiêu tập binh mã,
chăm lo sản xuất để cung cấp lương thảo cho quân binh.
Bấy giờ vùng này là nơi
đất đai rộng lớn, có cây rậm rạp, hoang vu, dân cư còn thưa thớt, đồng ruộng ít
ỏi. lúc đầu quận công Đậu Bá Toàn về
ở tại thôn Nam Lĩnh để đặt bản doanh, về sau ông lại chuyển đến vùng Bào Quan
trang (tên cũ của thôn Bảo Đức). Tại đây, thực hiện
chính sách khẩn hoá, chiêu dân, mở mang đồng ruộng... của triều đình, lại được
sự chỉ đạo, hướng dẫn của vị trấn thủ tài ba là Quận Huy Hoàng Đình
Bảo, Quận công Đậu Bá Toàn đã đưa hết sức mình cho công cuộc trấn thị.
Nhờ có tài tổ chức,
giỏi cầm quân, lại giàu lòng thương dân nên công cuộc chiêu dân. khai hoang, tổ chức sản
xuất... của ông được đông đảo nhân dân
hưởng ứng ủng hộ. Nhiều người dân phiêu tán, không nhà không cửa từ Nam
Đàn, Diễn Châu. Nghi Xuân - Hà
Tĩnh...) nghe tiếng ông đã kéo về đây ngày càng đông.
Từ đó nhiều trang
trại, ấp
mới ra đời, lập ra nhiều thôn mới như: Mô Vĩnh, Lai Nhà,Thanh Chữ, Bàn Thạch,
Thịnh Đại. Ná Điền, Bảo Đức.
Đời sống nhân dân lúc
này ngày càng no ấm, dân yên vật thịnh. Thời gian ông trấn
thị ở Thanh Chương không có cuộc khởi nghĩa nào nổ ra. Chính những công lao đó
mà Quận công Đậu Bá Toàn được thăng chức” thượng tướng
quân.”
Năm 1788, với chú trương
"phò Lê diệt Trịnh", vua
Quang Trung Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc. Trên đường đi có
dừng lấy quân ở đất Nghệ An. Quận công Đậu Bá Toàn là
một trung thần của nhà Lê, trước tình hình đó đã ủng hộ, đóng góp lương thảo,
quân binh cho quân của vua Quang Trung.
Sau khi tiêu diệt được tập đoàn phong kiến họ
Trịnh. Đậu Bá Toàn trở về tiếp tục công cuộc khẩn hoang, chiêu dân lập ấp, xây
dựng xóm làng.
Về đời tư của ông, theo
tư liệu Thanh Chương huyện chí và một số tư liệu được ghi chép lại không nói về
vợ ông mà chỉ nói về các người con của ông. ông có 4 người con. 2 người con trai và 2 người con gái. Khi 2 con trai ông: Thạc và Cối
đã trưởng thành, ông lên tuổi 70.
Dưới triều Lê Đức Long
(l621 — 1634) ông xin về nghỉ hưu và khai khẩn trang Đại Bàng
(có hiệu Cửu trang) lập trại khai hoang, có chỉ của Triều đình chấp chuẩn, ban
thưởng vàng 100 cân. về nghỉ
hưu với tước quận công, lưu hai chữ “phụng thị” ( về
hưu nhưng vẫn được phép vào chầu), hàng ngày cỡi voi đi
xem xét gia nhân công tác.
Hai con trai của ông đều
là quản tượng, là vai gánh vác, phụng sự sơn hà, rất được
nhiều người mến chuộng. Cả hai đều là võ thần, được phong tước quận
công.
Thạc quận sinh:Tả tướng
cơ Kiên Dũng hầu. Đức Nhuận.
Cối quận sinh: Hoan Võ
hầu, Ngọc Quỳnh.
Cha, con, anh em họ Đậu đồng thời hiển
đạt, sự nghiệp kỳ trác.
Thạc Quận công, Cối
Quận công về ớ tại xã Thanh Chi, lập nên dòng họ Đậu ở xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương.
Sau một thời gian Thạc Quận công (anh trai) đi khai khẩn tại làng
Văn Khôi xã Thanh An hiện nay.
Người con gái của ông là Đậu Thị Ngọc Hồng có
công tổ chức cho nhân dân cày cấy, bị mất khi chưa có chồng, được làng Ná Điền,
xã Thanh Khê lập đền thờ, đền có tên là đền Nhà Bà, về sau, đền bị hư hỏng nên
nhân dân đã rước tập trung về cúng tế tại đền Quan quận. Nay tại đền chỉ còn
nền đền và mộ bà. Một người con gái thứ nữa là Đậu Thị Ngọc Lễ lấy ông Đặng
Đình Trang, người làng Thanh Quả làm quan dưới triều vua Tây Sơn, chức: "Tán
trị công thần đặc tấn phù quốc tướng quân
điện tiền, phủ xuân hầu”.
Do tuổi cao sức yếu Quận
Công Đậu Bá Toàn mất năm 1798.
Tưởng nhớ công đức của ông nhân dân đã táng ông
tại thôn Bảo Đức và tôn làm thần, lập đền thờ phụng. Các triều đại phong kiến đã
ban nhiều sắc phong thần cho ông và giao cho 5 làng (ngũ
thôn: Ná Điền, Thanh Chữ, Thịnh Đại, Lai Nhã, Bảo Đức) phụng sự.
Hiện nay tại đền còn lưu giữ được nguyên
vẹn 2 sắc phong thần, trong đó có sắc triều vua Khải Định phong cho ông: "Lê triều đặc tấn phù quốc thượng tướng quân, hữu phủ đô đốc, hùng nghị,
Toàn quận công Đậu tướng công chi thần"
Ngoài việc thờ Quận công Đậu Bá Toàn tại đền, từ
năm 1948 một số đền, miếu trong vùng bị xuống cấp, hư hỏng, không có điều kiện
tu bổ, phục hồi nên bà con nhân dân ở các làng đã xin rước long ngai, bài vị
của một số vị thần được thờ tại các đền, miếu về phối thờ chung tại đây.
Đền Quan Quận vì thế
trở thành địa chỉ văn hoá tâm linh của cả vùng, là công trình văn hoá phục vụ
và đáp ứng nhu cầu thăm viếng, tưởng niệm người có công với dân với nước, gắn
với tín ngưỡng thờ thần của cộng đồng dân cư rộng lớn. Các hoạt động tế lễ hội
hè xưa tại đền trong những ngày sóc, vọng hàng tháng không chỉ thu hút dân làng
Bảo Đức mà cả dân các vùng phụ cận trong tổng Võ Liệt đều sắm lễ vật về đền để
cầu an, cầu phúc, cầu lộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đền
Quan Quận là một trong những địa điểm chứng kiến, ghi nhận nhiều sự kiện lịch sử
trọng đại của địa phương. Trong phong trào Văn thân yêu nước, đền Quan Quận trở
thành nơi tập trung quân, Khi chủ nghĩa Mác-Lê nin bắt đầu được truyền bá vào Việt
Nam, các tổ chức yêu nước ở Thanh Chương đã nhanh chóng tiếp nhận và tích cực
truyền bá vào sâu trong quần chúng nhân dân.
Đền Quan Quận được sử dụng làm địa điểm hội
họp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và dạy chữ quốc ngữ. Đặc biệt, trong phong
trào cách mạng 1930 - 1931, đền Quan Quận trở thành địa điểm hội họp, cất giấu
tài liệu của chi bộ đảng Liên Thái trong suốt thời gian hoạt động cách mạng
giành chính quyền. Sau khi chiến tranh chấm dứt, mặc dù kinh tế còn khó khăn nhưng nhân dân với truyền
thống "uống nước nhớ nguồn" vẫn làm tốt việc chăm lo hương khói phụng
thờ các vị thần thờ tại đền.
Trong quá trình tồn tại
dù đã qua nhiều lầ tu sửa, nhưng di tích hiện vẫn giữ được kiến trúc cổ kính cơ
bản của thời Nguyễn. Tại nhà thờ còn giữ được một số tài liệu chữ Hán quý hiếm
có giá trị nghiên cứu lịch sử như các sắc phong, thần vị, câu đối, đại tự... và
nhiều đồ khí được trang trí, chạm khắc đẹp. Thông qua kiến trúc và các đồ tế
khí hiện còn lưu tại di tích đã phần nào phản ánh được phong cách kiến trúc, lý
tưởng thẩm mỹ cũng như khả năng sáng tạo các giá trị văn hoá nghệ thuật ở thời
Nguyễn của nhân dân Thanh Chương nói riêng, xứ Nghệ nói chung...
Trải qua bao thăng trầm
của lịch sử, tác động của thiên nhiên, di tích Đền thờ Quận công Đậu Bá Toàn
vẫn tồn tại và giữ được những nét cổ xưa. Việc UBND tỉnh ra quyết định công nhận di tích LSVH
n¨m 2012. không những để minh
chứng cho lòng yêu nước, thương dân và đầy trí thông minh, tài nghệ của một vị
thượng tướng, mà còn tạo cơ sơ pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ và phát huy
giá trị của di tích. Đây la một sự kiện văn hóa, niềm vinh dự tự hào
cuả con cháu họ Đậu(Đỗ) và
nhân dân xã Thanh Khê nói riêng, Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Chương nói
chung.
Tëng nhí c«ng lao QuËn c«ng §Ëu B¸ Toµn h»ng n¨m cø ®Õn
s¸ng tõ 8-11h ngµy 28/1 ©m lÞch ngµy dç «ng thêng trùc héi ®ång gia téc hä §Ëu
(§ç)khu vùc NghÖ TÜnh cïng c¸c cô «ng,bµ con ch¸u trong dßng téc §Ëu B¸ x·
thanh chi,thanh khª cïng phèi hîp chÝnh quyÒn huyÖn Thanh Ch¬ng,x· Thanh Khª
®· tæ chøc lµm giç «ng theo nghi thøc long träng trong tÕ lÔ vµ nhÒu ngêi d©n ®Þa ph¬ng,ngêi d©n kh¾p
n¬i vÒ ®©y ngµy mét nhiÒu cïng s¾m lÔ,th¾p h¬ng xin cÇu tµi cÇu léc,cÇu b×nh
an mong «ng phï hé cho mu«n d©n b×nh an h¹nh phóc.
V¨n phßng H§GT
hä §Ëu (§ç)khu vùc NghÖ TÜnh
|