|
(Thời sự) - Từ
cổ chí kim, từ đông sang tây, thông thường, trong và sau mỗi cuộc phân
tranh “thư hùng”, thì tinh thần “Mã Thượng”, “Bất Sát Hạ Mã Chi Nhân”,
“Anh Hùng Trọng Anh Hùng”, thái độ “Quân Tử”, “Nhân Nghĩa”, “Khoan Dung
Độ Lượng” đối với chiến binh đối địch, tù – hàng binh, phe chiến bại …
của bên chiến thắng là một yếu tố rất cần thiết, nếu không muốn nói là,
“tuyệt đối cần thiết”, để hóa giải hận thù, thu phục nhân tâm, bình ổn
cục diện thời “hậu chiến” …
Những tinh thần, thái độ ngược lại, rất thường khi, chỉ mang đến cho
chủ nhân của nó, và những gì liên quan, những hậu quả bi kịch …
Anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, Achilles, đã phải nhận lấy một vết
nhơ không thể xóa mờ trong huyền thoại anh hùng của mình, khi đã nhẫn
tâm kéo xác Hector, một đối thủ cũng anh hùng, đằng sau xe ngựa để trả
thù … Cuối cuộc chiến thành Troia, Achilles đã phải lãnh lấy cái chết vì
một mũi tên vào gót chân, điểm yếu nhất trên cơ thể của mình, do sự nổi
giận của các vị thần, và gần như toàn bộ quân Hy Lạp đã bị chết trên
biển trên đường trở về quê hương sau khi chiến thắng.
Achilles kéo lê xác Hector quanh tường thành Troy
Thời Chiến Quốc, tướng nước Tần là Vũ An Quân Bạch Khởi, trong một
đêm giết chết 40 vạn hàng binh nước Triệu ở ải Trường Bình, sau phải
chết vì lưỡi gươm oan nghiệt “tam ban triều điển” do lời gièm pha, và
sau đó nước Tần đã phải hao binh tổn tướng mà vẫn không thể đánh bại
được nước Triệu vì tinh thần quyết tử không chịu đầu hàng của toàn thể
quân dân nước Triệu … Tương truyền “về sau vào khoảng cuối đời nhà
Đường, sấm sét đánh chết một con trâu, dưới bụng trâu có hai chữ “Bạch
Khởi”. Người ta nói Bạch Khởi vì giết người nhiều quá, nên mấy trăm năm
sau vẫn còn phải chịu cái quả báo làm kiếp trâu bị sét đánh”.
Thời Hán – Sở tranh hùng, Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đang đêm sai quân
đánh úp, chôn sống 20 vạn hàng binh nước Tần ở thành Tân An, sau phải
chịu thất bại, tự sát tại bến Ô Giang, và tám ngàn tử đệ Giang Đông thân
tín đã cùng ông vượt Trường Giang tây chinh cũng không còn lấy một
người trở về, nước Sở bị mất vào tay Lưu Bang, Hán Cao Tổ. Hán Cao Tổ hạ
lệnh chôn cất Hạng Vương ở Cốc Thành theo lễ Lỗ Công, đích thân đến cử
ai và khóc, không giết hại dòng họ Hạng Vương mà còn phong Hầu để bình
ổn cục diện hậu chiến. Nhà Hán kéo dài hơn bốn thế kỷ, 203 TCN – 220,
được xem như là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Cho đến ngày nay, nhóm dân tộc chiếm phần lớn dân số Trung Quốc cũng tự
cho mình là “người Hán”, và chữ viết Trung Quốc cũng được xem là “Hán
tự” …
Ở Việt Nam ta, thời Trần, tồn tại 175 năm, 1225 – 1400, vị vua anh
minh Trần Nhân Tông đã cởi ngự bào đắp lên thủ cấp của Toa Đô, và cảm
thán : “Làm tôi phải nên như người này!”, rồi sai người khâm liệm chôn
cất tử tế. Tinh thần “Anh Hùng Trọng Anh Hùng” đó không hề làm giảm sút
“Hào Khí Đông A”, ý chí “Sát Thát” của vua tôi, quân dân nhà Trần, mà
chắc chắn, thực tế đã chứng minh, ngược lại … Tinh thần “Nhân Nghĩa” đó
lại được thực hiện tiếp tục sau chiến thắng khi nhà vua cho đốt hòm biểu
xin hàng quân Nguyên của một số quan lại, tôn thất nhà Trần để xóa bỏ
hiềm nghi, cố kết lòng người, tập trung mọi nguồn lực để tái thiết đất
nước …
Các
tướng thắng trận đem đầu Toa Đô về nộp để lấy công. Trần Nhân Tông thấy
Toa Đô là một dũng tướng hết lòng với vua Nguyên, liền nói: “Làm tướng
nên như người này.” Rồi nhà vua cởi áo bào, đắp vào đầu Toa Đô và cho
lệnh mai táng tử tế.
Nhưng sau đó, vua tôi nhà Trần đã buộc phải dùng độc kế, cho đục
thuyền giết chết Ô Mã Nhi, một danh tướng Nguyên Mông, và hàng binh trên
đường trao trả, để “diệt trừ hậu họa”. Các Sử Gia đời sau đều phê phán
là bất nhân, bất nghĩa.
Hậu quả của việc làm này đã khiến cho, vào thời Lê Lợi kháng chiến
chống quân Minh, việc sắp xếp giảng hòa giữa ta và quân Minh bị cản trở,
dọn đường cho bọn Liễu Thăng, Mộc Thạnh mang quân sang tiếp cứu, như
sau :
“Tháng chạp năm Bính Ngọ ( 1426 ) vua ( Lê Thái Tổ ) thân đốc suất
tướng sĩ ngày đêm đánh Đông Đô. Bọn Vương Thông, Sơn Thọ nhà Minh hễ
đánh là thua ; chán nản lo sợ, mưu kế đã cùng, viện binh không có, tình
thế ngày một khốn bèn sai người đưa thư xin hòa, mong được toàn quân trở
về nước. Vua nói : “Câu đó đúng hợp ý ta. Vả lại binh pháp có nói không
đánh mà khuất phục được quân của người là kế hay hơn cả.” Bèn bằng lòng
cho giảng hòa, hẹn ngày kíp gọi quân sĩ các thành cùng một lúc tập hợp
tại thành Đông Quan để cho về nước. Sai cận thần trao đổi với quân Minh,
cho phép họ được đi lại mua bán không khác gì thường dân.”
“Bấy giờ bọn ngụy Đô Ty Trần Phong, Tham Chính Lương Nhữ Hốt, Đô Chỉ
Huy Trần An Vinh đã bán nước làm quan to cho giặc, sợ sau khi giặc rút
về hắn sẽ hết bề sống sót, bèn ngấm ngầm tâu với nhà Minh rằng :
“Trước kia Ô Mã Nhi bị thua ở sông Bạch Đằng đem quân về hàng. Hưng
Đạo Vương cho hàng, nhưng mưu lấy thuyền lớn đưa họ về nước, rồi cho
người giỏi bơi lặn sung vào phu thuyền. Ra đến ngoài biển, lừa lúc ban
đêm mọi người ngủ say, bọn phu thuyền lặn xuống nước dùi thủng đáy
thuyền, những người đầu hàng đều bị chết đuối hết, không một ai sống sót
trở về được.”
“Bọn Vương Thông tin lời, đem lòng ngờ vực, lại nảy ra ý khác. Bèn
đắp thêm tầng lũy kép, thả chông để làm kế tạm bợ, ngoài mặt nói hòa
hiếu nhưng ngấm ngầm bày mưu tính kế. Chúng bí mật sai mấy chục bọn mang
thư bọc sáp, đi lối tắt về xin viện binh.” ( Đại Việt Sử Ký Toàn Thư )
Chỉ đến khi Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, viiêc
giảng hòa mới thành công. Lê Lợi cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề
trong thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi ( 1427 )
rút quân về. Để giữ hòa hiếu, mưu đồ đại cục, triều đình nhà Lê đã cấp
thuyền và ngựa cho quân Minh an toàn về nước, hai bên chấm dứt can qua,
nhà Lê ổn định được lâu dài, tồn tại 362 năm, 1427 – 1789 …
Triều đình nhà Lê đã cấp thuyền và ngựa cho quân Minh an toàn về nước
Nhà Tây Sơn với nhiều chiến công hiển hách, nhưng võ công nhiều, văn
trị ít, hủy hoại lăng miếu tiền triều, ngoài Bắc san phẳng làng Tiên
Điền, trong Nam đốt phá Nông Nại đại phố, Mỹ Tho đại phố …, khiến lòng
dân không phục, sự nghiệp không bền, từ lúc khởi phát đến khi diệt vong
chỉ có 31 năm, 1771 – 1802, mặc dù về đối ngoại, vua Quang Trung đã cố
giữ hòa hiếu ngoài mặt với nhà Thanh, sau khi đánh bại 30 vạn quân xâm
lược …
Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước, đối với nhà Tây Sơn thì
tìm cách tận diệt, trả thù tàn độc, là một điểm đen trong lịch sử …
Nhưng đối với tôi thần và dòng dõi vua Lê và chúa Trịnh thì khoan dung,
xóa bỏ hận thù để cố kết lòng người, nên sự nghiệp cũng được tương đối
lâu bền, tồn tại được 143 năm, 1802 – 1945 …
Cũng cần nhớ, sinh thời, Nguyễn Huệ, khi còn là Long Nhương Tướng
Quân, dưới quyền Nguyễn Nhạc, do anh em bất hòa, xung đột quyền lợi, đã
từng đem quân vây bức vua Thái Đức Nguyễn Nhạc tại thành Quy Nhơn … Cũng
cần phải biết, sau khi vua Quang Trung băng hà, nhà Tây Sơn đã tự suy
yếu nhanh chóng : vua Cảnh Thịnh, kế nghiệp vua Quang Trung, còn nhỏ (
do vua Quang Trung thiên vị “bỏ trưởng lập thứ”, một lỗi lầm thường thấy
ở các vị đế vương phong kiến, và thường gây hậu họa … ), Thái Sư Bùi
Đắc Tuyên chuyên quyền ( tương tự trường hợp Thái Phó Trương Phúc Loan
của chúa Nguyễn, là thời cơ và cái cớ để nhà Tây Sơn khởi binh … ), các
tướng tá tranh quyền, nghi kỵ, giết hại lẫn nhau … ; sau đó, vua Thái
Đức Nguyễn Nhạc, lúc này đã tự từ bỏ đế hiệu, chỉ xưng là Tây Sơn Vương,
lại bị vua Cảnh Thịnh ( là cháu ruột gọi vua Thái Đức bằng bác ) cướp
hết cơ nghiệp, uất ức mà băng … Thời gian đó, ngay tại Bình Định, đất
phát tích của nhà Tây Sơn, được hưởng nhiều ưu đãi, mà còn lưu truyền
những câu ca dao như :
– Lạy Trời cho cả gió nồm
Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra
– Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ( thành ) ba năm
Quan Hậu tức là Chưởng Hậu Quân Võ Tánh, phò mã của chúa Nguyễn Ánh.
Chứng tỏ dân chúng đã chán ghét nhà Tây Sơn, nên việc nhà Tây Sơn sau
khi sụp đổ không có cuộc nổi dậy khôi phục nào, không hẳn chỉ do nguyên
nhân vua Gia Long “truy cùng giết tận” …
Chúng ta, những người Cộng Sản, khi chưa giành được chính quyền, và
khi có chiến tranh, thì, thậm chí, tự tuyên bố giải tán đảng để thành
lập Mặt Trận Dân Tộc nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, huy động mọi
nguồn nhân lực, vật lực cho cuộc chiến … ; đến khi chiến thắng, giành
được chính quyền rồi, thì lại mắc phải sai lầm quay lại triệt tiêu các
tầng lớp Tư Bản, Tiểu Tư Sản, Trí Thức, các đảng phái đối nghịch, … Nhất
là đối với chế độ cũ bại trận, với “lập trường địch – ta” cực đoan, đã
thiếu một sự khoan hồng, độ lượng cần thiết để hóa giải hận thù, hòa hợp
dân tộc, để cùng nhau tái thiết và phát triển đất nước …
Chủ trương hòa hợp đã có từ lâu nhưng chúng ta thực hiện nó lại rất
chậm. Để đến nỗi nhiều người dân hoài nghi về sự hòa hợp đó, liệu có đi
vào chiều sâu và thực chất?
Đã có những câu hỏi về Nghĩa trang Biên hòa khi còn chưa dân sự hóa.
Rằng sao không hòa hợp với cả những người đã chết, hòa hợp trọn vẹn về
mặt Tâm Linh, để thực tâm hóa giải một thời lầm lạc?
Nghĩa trang Biên Hòa (nằm tại huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương) là nơi an
táng những người lính VNCH năm xưa. Thế nhưng sau khi hòa bình lập lại,
chính quyết định giao nghĩa trang cho Quân khu 7 quản lý đã trở thành
rào cản, khiến nhiều người mẹ không dám vào thắp nén nhang cho con,
người thân không dám đi tảo mộ những dịp lễ tết, các cựu sĩ quan, binh
lính không dám thắp nén nhang mỗi khi đi ngang qua nơi an táng đồng đội.
Đau lòng lắm thay!!!
Một dân tộc luôn “tự hào” là “Con Rồng Cháu Tiên”, “Con Lạc Cháu Hồng” …, mà lại như thế sao … !? …
Một dân tộc luôn “tự hào” về hai tiếng “ĐỒNG BÀO”, xuất xứ từ huyền
thoại “Lạc Long Quân – Âu Cơ” chỉ có duy nhất trên thế giới …, mà lại
như thế sao … !? …
Một dân tộc luôn “tự hào” với 4.000 năm Văn Hiến, “thấm nhuần” đạo lý
Thánh Hiền, đạo của người Quân Tử, mà lại như thế sao … !? …
Sao không học hỏi từ nước Mỹ !? Một đất nước với dân tộc hợp chủng, chỉ mới lập quốc từ năm 1776 …
Họ đã hành xử như thế nào sau cuộc nội chiến phân tranh Nam – Bắc Mỹ,
đối với những người còn sống, cũng như đối với những người đã chết … !?
…
Xin hãy đọc những dòng sau đây, đọc tất cả, và … suy ngẫm :
BÀI HỌC TỪ CUỘC NỘI CHIẾN HOA KỲ
Tháng 4 của Hoa Kỳ cũng là một ngày tháng đáng lưu ý của lịch sử.
Cuộc nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861. Bốn
năm sau vào ngày 9 tháng 4-1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng
Grant của miền Bắc.
Cuộc chiến tranh với hàng trăm trận đánh tại miền Ðông Hoa Kỳ trong
trọn vẹn 4 năm đã làm cho quân hai bên chết 620 ngàn và hàng triệu người
bị thương tích. Miền Bắc thắng trận, thống nhất đất nước, giải phóng nô
lệ và hy sinh thêm vị anh hùng Mỹ quốc. Ðó là Tổng Thống Lincoln.
Trận Franklin ngày 30 tháng 11 năm 1864
Trong trận đánh cuối cùng, quân miền Bắc chiếm được Richmond là thủ
đô của miền Nam vào ngày 2 tháng 4-1865. Hai ngày sau Tổng Thống Lincoln
của Hoa Thịnh Ðốn đến thị sát Richmond, bước vào dinh tổng thống miền
Nam đã bỏ chạy. Tiếp theo là Tướng Lee đầu hàng ngày 9 tháng 4 và vào
ngày 15 tháng 4-1865, Tổng Thống Lincoln bị ám sát chết.
Vị tổng thống thứ 16 trở thành vĩ nhân thống nhất đất nước và giải
phóng nô lệ nhưng chỉ vui với chiến thắng chưa được một tuần lễ.
Số là sau chiến tranh dành độc lập, mười ba xứ thuộc địa Bắc Mỹ thắng
Anh quốc trở thành Hoa Kỳ với tổng thống Washington thì tiếp theo đến
trận nội chiến chia đôi Nam Bắc là một vết thương đau đớn nhất.
Vào thời kỳ đó, nước Mỹ gồm các tiểu bang Ðông Bắc có thủ đô Hoa
Thịnh Ðốn chủ trương giải phóng nô lệ. Tổng thống Hoa Kỳ là Luật Sư
Lincoln tuyên bố quốc gia không thể có hai luật, một nửa có nô lệ, một
nửa không.
Quân chính phủ miền Bắc gọi là quân đội Potomac, lấy tên của dòng
sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông
quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho nông nghiệp. Tổng thống
miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmond và quân đội do tướng Lee chỉ
huy được gọi là quân đội Virginia.
Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của ông Lincoln từ 1861 đến 1865
với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là Tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc
và Tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly
khai bầu ra một Tổng Thống Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền
Nam chính là Tướng Lee.
Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi. 11 tiểu bang miền
Nam ly khai với 9 triệu dân và thêm 4 triệu dân nô lệ da đen. Chính phủ
liên bang Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc với 20 triệu dân.
Nội chiến Mỹ (năm 1863)
Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ
nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West
Point.
Tháng 4-1861 khởi chiến Nam Bắc, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân
đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền
Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với
nơi ông đã sinh ra và trưởng thành.
Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau
cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất
thủ, ông đã quyết định đầu hàng.
Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh
Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể
hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ Cuốn Theo Chiều Gió mà chúng ta
đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu.
Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là tài liệu được đem dạy ở
trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.
Cuốn Theo Chiều Gió
Ðó là những bài học gì mà chiến tranh, giết người, đốt nhà, nồi da nấu thịt đã đem lại cho thế hệ nối tiếp.
* * *
Bài học phải bắt đầu từ câu chuyện đầu hàng.
Ðúng như vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ,
thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng
nhất vì dựng lên ngay tại một ngôi nhà mà Tướng Lee đã đến ký văn bản
đầu hàng ngày 9 tháng 4-1865.
Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết
ra và hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng
trận.
KẾT THÚC NỘI CHIẾN NAM – BẮC MỸ
Lịch sử ghi lại rằng vào sáng ngày 9 tháng 4 cách đây 140 năm, thủ đô
miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân
đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui.
Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị phân tán để giữ lực lượng đánh du
kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải
qua bao nhiêu chiến thắng nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới
hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng ông gửi cho
Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.
Ông Grant nhận được thư hết sức vui mừng và bỗng nhiên thấy hết ngay cơn bệnh nhức đầu ghê gớm hành hạ ông từ nhiều ngày qua.
Vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực
thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh
miền Nam bại trận.
Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, Tướng Lee và một đại tá tùy tùng
cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Hình ảnh ghi lại hai
người đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón. Các sĩ
quan miền Bắc đưa vị tư lệnh miền Nam vào phòng họp. Nửa giờ sau Tướng
Grant và đoàn tùy tùng miền Bắc đến.
Cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ.
Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ. Tướng Grant sau này thú
nhận là ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải hỏi Tướng Lee nói
về quyết định đầu hàng.
Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước
bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng
Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ
của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông
trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ cấp như lính
miền Bắc.
Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản
nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây
dựng lại nông trại.
Sau này khi viết về văn bản đầu hàng, lịch sử ghi rằng đây là thỏa
hiệp của những người quân tử (The Gentlemen’s Agreement). Trên các bảo
tàng viện và đặc biệt là bảo tàng viện ở Appomattox Virginia có tranh
sơn dầu hình Tướng Lee hiên ngang quắc thước trong bộ quân phục xanh
dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng không bị
khuất phục dù thua trận. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị
nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc cũng vẫn là một người Mỹ bị
sỉ nhục.
Thực vậy, 140 năm sau, đi thăm viện bảo tàng đầu hàng, cô Mary quản
thủ cơ sở đã nói rằng dù hình ảnh của miền Nam hay miền Bắc, lịch sử
không muốn ghi lại các hình ảnh xấu xa của bất cứ phe nào.
Ở đây là nơi lưu giữ hình ảnh của các anh hùng miền Nam lẫn miền Bắc.
Ðặc biệt là hình ảnh của phe bại trận lại được lưu ý hơn cả phe chiến
thắng. Lá cờ rách của miền Nam thua trận treo tại thủ đô Richmond bây
giờ lại là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện đầu hàng.
Và hình Tướng Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc
miền Bắc chào đón. Hình Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh
sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào.
Bây giờ hình tượng của tướng Lee tràn ngập ở miền Nam Virginia. Câu
lạc bộ Lee, bảo tàng viện Lee, Lee High Way, Fort Lee và các đồn trại
của quân đội liên bang mang tên vị tướng thua trận như là một biểu tượng
anh hùng. Bởi vì người Mỹ đã thấm nhuần bài học rất Hoa Kỳ. Bài học của
người lính dũng cảm cả hai phe trong chiến tranh và người quân tử của
thời hậu chiến.
Tượng vị tướng Robert E Lee
Trong cuộc nội chiến tại nước Mỹ vào thế kỷ 19, sau cùng được thua thì cũng vẫn là nước Mỹ và người Mỹ.
Tại nước Mỹ có một nghĩa trang quốc gia nổi tiếng khắp thế giới. Ðó
là nghĩa trang Arlington. Ðây là nghĩa trang chính thức của liên bang
Hoa Kỳ, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam.
Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang
lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ
gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.
Lá cờ của cả hai phe đều được tôn trọng và sử dụng trong nghĩa trang này
Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, không
có cải tạo tập trung, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.
Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều
đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ
đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là
Confederate Memorial.
Cũng phải nói rằng, thực sự sau nội chiến, dư vị cay đắng giữa Nam
Bắc Hoa Kỳ vẫn còn nhiều. Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên
chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng
gươm dao. Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị và nông
trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp phụ nữ và tàn
sát trẻ em. Cuộc chiến nào mà không có những lần quá độ.
Năm 1900 tức là gần 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hòa
giải dân tộc và năm 1991 thì các liệt sĩ miền Nam được cải táng đưa vào
một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section.
Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà
tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.
The Confederate Memorial, Arlington
Trên đỉnh của chân bệ hình vòng cung như nóc Tòa Quốc Hội là hình
tượng cao 32 feet của một thiếu phụ tượng trưng cho miền Nam. Ðây là
hình ảnh bà mẹ của phe bại trận đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến.
Phía dưới là bài thơ đại ý như sau:
“Ở đây chẳng có vinh quang hay tưởng lệ.
Ở đây chẳng phải binh đoàn hay cấp bậc.
Ở đây chẳng có tham vọng hay mưu cầu.
Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ.
Những người nằm ở đây đã hiểu rõ
là họ trải qua gian khổ, đã hy sinh
đã liều thân và sau cùng đã chết.”
Ðó là câu chuyện về các tử sĩ tại Hoa Kỳ.
* * *
Vậy thì câu chuyện mộ phần của các tử sĩ Việt Nam Cộng hòa thì ra sao?
Nhân dân thắm nhang kính viếng tử sĩ tại nghĩa trang Biên Hòa
Từng là người lính trưởng thành và hoạt động trong vùng chiến sự,
chứng kiến và chia sẻ nỗi đau của những gia đình chia năm, xẻ bảy vì
chiến tranh. Thế nên, sau khi nhậm chức không lâu, năm 2007 Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã ra quyết định dân sự hóa Nghĩa trang Biên Hòa và sử
dụng khu nghĩa trang này “bình thường như các nghĩa địa khác”, khiến
không ít người cảm động.
Chị Trần Hồng Nga bên mộ phần xây mới của người cha Trần Văn Tám trong nghiã trang này sau 43 năm tưởng thất lạc
Chính Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nhận xét: “Đương kim Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã làm tốt hơn tôi về vụ nghĩa trang Biên Hòa”.
Cựu thiếu tá VNCH Nguyễn Đạc Thành cùng tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon, ông Lê Thành Ân, thăm nghĩa trang Biên Hòa.
Việc trùng tu lại Nghĩa trang Biên Hòa vốn khá nhạy cảm khi mà vết
thương chiến tranh chưa lành hẳn trong tâm tưởng nhiều người. Thế nhưng,
nhìn thẳng vào quá khứ để vững bước đi đến tương lai mới chính là mong
mỏi chung của hàng triệu người dân Việt Nam. Bất kể đứng bên chiến tuyến
nào, những người lính đã nằm xuống cho tổ quốc đều xứng đáng được tôn
trọng và đối xử công bằng.
Đoàn Việt kiều Trường Sa 2014 viếng thăm nghĩa trang Bình An (Nghĩa trang Biên Hòa)
Cuộc chiến đã 40 năm qua, những người Việt Nam đã biết cách đối xử tử tế với các tử sĩ miền Nam.
Người dân đến viếng mộ người thân tại Nghĩa trang Nhân dân Bình An – Ảnh: Đỗ Trường
Mời các bạn xem Đoàn kiều bào, đa số là từ Hoa Kỳ, tới tỉnh Bình
Dương, đến viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ Bình Dương và nghĩa trang Bình
An, tức nghĩa trang quân đội Biên Hoà thời VNCH. Tại cả hai nơi, đoàn
đã đặt vòng hoa với cùng một thông điệp in trên giấy: “Đoàn kiều bào
thăm Trường Sa năm 2014 kính viếng”
Xem lại lịch sử, chiến cuộc Nam Bắc Hoa Kỳ trong 4 năm rất khốc liệt, máu lửa và ghê gớm vô cùng.
Trong một thời gian ngắn các trận đánh dồn dập, các đô thị bốc cháy
lửa cao ngút trời. Cũng tản cư, cũng loạn lạc và chiến tranh để lại các
cánh đồng toàn xác chết trong các trận giáp lá cà, đâm chém nhau mặt đối
mặt.
Nhưng rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những
bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để
chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng.
Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các
tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo quân tử là phải biết xưng tụng các
bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết
tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch.
Sống làm người dù ở hoàn cảnh nào, cũng không bao giờ muộn để học làm
người quân tử. Trước khi chết, Tổng Thống Lincoln đã nói: “Người ta có
thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch
sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con
người vĩ đại đã ngã xuống.”
Hòa Bình
|