 |
|
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng. Ảnh: Việt Anh
|
Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng chia sẻ với VnExpress về thuở ban đầu của quan hệ Việt - Mỹ, nhân 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước.
- Ông có thể nói về những ngày đầu Việt Nam nỗ lực biến quan hệ với Mỹ từ thù thành bạn?
- Giai đoạn đó có rất nhiều trở ngại, từ quốc hội, chính phủ Mỹ, báo
giới, người dân, cựu binh và cả cộng đồng người Việt di tản sau chiến
tranh. Có những trở ngại gần như nản chí nếu mình mong nó phát triển
nhanh. Khó khăn này kéo dài suốt từ những năm 1980 đến năm 1995, là tất
yếu do lịch sử để lại. Việt - Mỹ từng ở hai bên chiến tuyến, dùng tất cả
những gì có thể để đánh bại bên kia, khi cuộc chiến chấm dứt thì những
điều đó vẫn còn đọng lại trong từng người, không dễ mất đi được. Nhưng
cả lãnh đạo và nhân dân Việt nam đều mong muốn phá bỏ bao vây cấm vận,
điều đó là cần thiết.
- Những trở ngại đó cụ thể là gì?
- Có một trở ngại chính là vấn đề người Mỹ mất tích
sau chiến tranh (MIA) và tù binh (POW). Mặc dù từ năm 1973 Việt Nam đã
thả hết tù binh về nhưng phía Mỹ vẫn nói "còn người bị giam giữ ở Việt
Nam thì không có chuyện bình thường hóa quan hệ". Rồi vấn đề người di
tản, tôi ở Mỹ 9 năm thì thì có đến hàng trăm cuộc biểu tình phản đối, số
lượng lên đến hàng nghìn người, họ ném đá, ném trứng thối, phá các
chuyến thăm Mỹ của các lãnh đạo Việt Nam. Đến mức tôi đi đến đâu cũng
phải cảnh giác với biểu tình vì chắc chắn có khoảng vài ba trăm người ở
một bang nào đó đứng trước cổng "đón". Kinh khủng nhất là tháng 8/1995,
tôi đến quận Cam và phát biểu công khai trước đám đông, đó cũng là lần
đầu tiên một quan chức Việt Nam đến đối thoại trực diện với người dân
Mỹ.
- Hai nước lúc đó "giằng co" nhau những điều kiện gì?
- Suốt từ năm 1975 đến 1995, ưu tiên của Việt Nam là bỏ cấm vận, mà để
bỏ cấm vận thì hai nước phải thiết lập quan hệ liên lạc. Trong giai đoạn
1985-1988, Việt Nam chào đón Mỹ sang thảo luận các vấn đề MIA đồng thời
với việc bàn bạc bỏ cấm vận. Cuối năm 1988, Việt Nam yêu cầu Mỹ cho lập
văn phòng ở Washington DC để thông tin về hài cốt lính Mỹ mất tích, họ
hứa về báo cáo với Quốc hội nhưng sau đó không được. Việt Nam thì tuyên
bố không tiếp tục thương lượng về MIA nữa. Mọi chuyện tưởng như đi vào
bế tắc. Lúc đó Thượng nghị sĩ John McCain và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Cơ Thạch phải đứng ra "dàn hòa". Đến tận tháng 1/1995, cựu Tổng thống
Mỹ Bill Clinton tuyên bố hai bên đồng ý thiết lập văn phòng liên lạc tại
Washington.
- Có lần nào hai bên gần đạt được thành quả rồi bị thất bại?
- Đầu năm 1993 tôi được cử sang làm Đại sứ tại Liên Hợp Quốc
(LHQ), mọi người ở nhà hy vọng "khoảng 6 tháng nữa Việt Nam sẽ thiết lập
một cơ quan liên lạc ở Washington". Đột nhiên đến khoảng tháng 3, tháng
4, phía Mỹ đưa ra tài liệu được cho là của Thượng tướng Trần Văn Quang,
cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam gửi cho Bộ Chính trị, báo cáo về
việc "đưa tù binh Mỹ từ Việt Nam sang Nga" như thế nào. Sự kiện đó như
quả bom nổ tung, làm tan nát hết các dự định giữa hai bên.
- Sự thực là sao thưa ông?
- Thời điểm đó ông Bill Clinton dự định có thể đi tới thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam, nhưng sau đó chính quyền phải tạm dừng. Việt
Nam cũng tạm dừng nỗ lực và đi điều tra tài liệu về "tù binh bị đưa sang
Nga". Khi ấy Mỹ và Nga có quan hệ tương đối hòa giải, vì thế khi
Washington kiểm tra lại xem tài liệu đó có trong kho lưu trữ thật không,
Moscow nói không có, báo cáo kia là giả. Báo cáo đó thuộc về một trong
những nhóm cựu hữu chống phá quan hệ Việt - Mỹ, họ không phải hoạt động
theo cảm tính, mà có nghiên cứu và chuẩn bị hẳn hoi. Họ thuê người viết
các báo cáo, chờ xem Mỹ và Việt Nam tuyên bố cái gì thì họ tung ra. Hai
bên giải quyết được rất nhiều vấn đề nhưng đến đoạn gần cuối họ vẫn phá
được. Chính vì những tài liệu như thế mà đến tận cuối năm 1993 ông Bill
Clinton mới tuyên bố cho Việt Nam vay tiền của Ngân hàng Thế giới (WB)
và đến tháng 2/1994 mới tuyên bố bỏ lệnh cấm vận. Mất rất nhiều thời
gian như thế.
- Việt Nam còn phải chứng minh như thế nào nữa để Mỹ không hoài nghi về vấn đề POW?
- Khoảng năm 1991 hoặc 1992, đoàn Mỹ nói với Việt Nam rằng họ nhận được
tin vẫn còn người Mỹ còn sống (bị giam làm tù binh), đề nghị Việt Nam
chuẩn bị một chiếc trực thăng, "khi nào ăn cơm xong sẽ đi". Đoàn sau đó
lên đường sang Gia Lâm, và khi lên máy bay, họ chỉ đến Thanh Hóa, máy
bay đỗ xuống một khu rừng, đó chính là trại tù binh trước đây. Nhưng lúc
đó đã tan hoang rêu phong rồi, không còn ai. Sau năm 1994 thì mức độ
nghi ngờ có giảm đi.
Có một vài người, trong đó ông John McCain có thể coi là "người tháo nút" nhiều vấn đề, ông có quyền lực và nhìn xa trông rộng. Từ
cấp cao thì có ông Bill Clinton. Ngoài ra còn có Thượng nghị sĩ John
Kerry (nay là Ngoại trưởng Mỹ), bà Virginia Foote, người tiếp cận Nhà
Trắng rất sát sao về các vấn đề Việt Nam.
 |
|
Đại sứ Lê Văn Bàng, phải, gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton năm 1997 về việc mở cơ quan ngoại giao. Ảnh: Nhân vật cung cấp
|
- Nhìn lại chặng đường bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, những
thành tựu nào hai nước đã đạt được mà trước đây ông tưởng rằng sẽ rất
khó khăn?
- Hai bên đã đạt được những kết quả rất nổi bật, chẳng hạn như Việt Nam
xuất sang Mỹ hơn 29 tỷ USD năm ngoái, số sinh viên Việt đang học ở Mỹ
gần 17.000, khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Đáng kể
là quan hệ quân sự. Hồi xưa tôi từng tìm hiểu xem Mỹ có thể bán thiết bị
kỹ thuật cao hoặc các thiết bị phi sát thương cho Việt Nam nhưng rất
khó. Khoảng năm 1996 - 1998, Nhà nước yêu cầu tôi thử tiếp cận công ty
tư nhân của Mỹ để mua một số động cơ của tàu cao tốc, trang bị cho tàu
trên biển. Tôi hỏi một công ty ở bang Connecticut, làm việc xong thì gửi đề nghị lên Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng không được. Đến 2004 Việt Nam đề nghị mua vũ khí của Mỹ nhưng cũng không được chấp thuận.
Bây giờ thì họ hứa bán cho mình. Nói chung quan hệ kinh tế, quân sự và
đào tạo là những điều trước đây rất khó khăn, mà giờ đạt được rồi. Tôi
từng nghĩ quan hệ chiến lược Việt - Mỹ rất "xa vời", nhưng tôi hiểu thực
chất quan hệ toàn diện bây giờ có ý nghĩa chiến lược, đó là thành tựu
rất nổi bật. Việc hợp tác với Mỹ có thể góp phần thúc đẩy Việt Nam phát triển hơn nữa, duy trì được hòa bình, ổn định.
 |
|
Ông Lê Văng Bàng, cùng Thượng nghị sĩ John Kerry (bìa trái), hiện
là ngoại trưởng Mỹ, và Thượng Nghị sĩ John McCain, ngoài cùng bên phải,
trong lễ khai trương các dự án của Cơ quan Đầu tư tư nhân hải ngoại
(OPIC) tại Việt Nam, tháng 3/1998. Ảnh: NVCC
|
Việt Anh