|
CHỮ VIỆT CỔ CÒN MÃI
Phát hiện về “chữ của người Giao Chỉ” được Ông Nguyễn Văn Đảm,
quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa lưu giữ là một tin vui cho những ai quan tâm đến đề
tài chữ Việt cổ. Bộ chữ này được gia tộc ông dùng để chép gia phả và nghề thuốc
gia truyền. Đây là cách cha ông gìn giữ văn tự của của Tổ tiên truyền lại cho
con cháu hôm nay.
Ngược dòng thời gian, vào năm
1903, Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn
bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà
ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội
dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề “Mời trầu” có nội dung ca ngợi tình
yêu.
Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của
tổ tiên ta từ thời các vua Hùng nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ
phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì: ”Thập châu là vùng biên viễn,
nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này”.
Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một đại
thần triều Nguyễn, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1857) đã
phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự, trong đó có một bộ chữ
cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo
chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần
trắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần
bằng, 15 thể chữ cái theo vần trắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà
Ông gọi là “tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép
lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu” (tức là có
thể chuyển ngữ cho chữ Hán).
Người dành cả đời đi tìm chữ Việt cổ là thầy giáo
Đỗ Văn Xuyền. Ông đã giải mã được bộ chữ Thổ tự do Phạm Thận Duật phát hiện và
xây dựng giáo trình dạy thứ chữ này.
Ông còn sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về
chữ Việt cổ và lập được bản đồ 18 địa điểm trường học và thờ các thầy cô giáo
thời Hùng Vương. Hiện nay có một ngôi miếu thờ thầy cô giáo thời Hùng Vương ở
Việt Trì, Phú Thọ, mà trong đó hoành phi, câu đối đều dùng chữ Việt cổ được ông
Xuyền giải mã.
Vậy là từ năm 1923, khi nhà khảo cổ người Pháp
Madelaine Colani tìm được hai chiếc đĩa chiếc đĩa cổ bằng đất nung có chữ Việt
cổ ở Lan Gan (Hòa Bình) có niên đại khoảng 8.000 năm trước Công Nguyên, tiếp đến
những ký tự đúc trên đồ Đông Sơn cách đây khoảng 4.000 năm, cho đến nay ta đã
phát hiện được hoá thạch sống của chữ Việt cổ do gia tộc ông Ông Nguyễn Văn Đảm
lưu giữ, đã chứng tỏ chữ Việt cổ hình thành từ nền Văn hoá hoà Bình, phổ biến
trong văn hoá Đông Sơn và tồn tại đến ngày nay. Giải đáp thắc mắc về một nền
văn hiến thiếu chữ viết, phải chờ Sĩ Nhiếp sang khai hoá.
Phải chăng đây là “bộ chữ của người Giao Chỉ” mà
năm 1624, giáo sĩ Alexandre de Rhodes học được từ một cậu bé khoảng hơn mười
tuổi ở Hội An (như tự truyện ông kể).
Có điều đáng buồn là tấm bia vinh danh người sáng
tạo chữ Quốc ngữ bị vứt lăn lóc ở đê sông Hồng, may mắn được ông Nguyễn Việt
Minh một cán bộ bảo tàng về hưu phát hiện mang về cất giữ, rồi giao lại cho nhà
nước, chờ ngày ra mắt công chúng.
Còn những người tâm huyết với văn hoá và di sản
tiền nhân như vậy, chúng ta có quyền hy vọng chữ Việt cổ không mất được mà sẽ
được quảng bá rộng rãi hơn nữa.
Bài Đỗ Quang
Hai chiếc đĩa chiếc đĩa cổ bằng đất nung có chữ Việt cổ ở Lan Gan (Hòa Bình) niên đại 8000 năm TCN, được nhà khảo cổ người Pháp Madelaine Colani tìm được năm 1923
Chữ Việt cổ trên thân trống đồng Lũng Cú
Văn bản chữ Việt cổ của Vương Duy Trinh
Chữ Việt cổ do Vương Duy Trinh phát hiện được ông Đỗ Văn Xuyên giải mã
Chữ Việt cổ được được Ông Nguyễn Văn Đảm cung cấp
|