|
LÀNG CỔ ĐÔNG NGẠC
Nguyễn Xuân Diện
Đó là một ngôi làng cổ nằm sát chân cầu Thăng Long Hà Nội. Một
làng quê cổ kính, đặc sắc bậc nhất của Hà Nội đến nay còn khá nguyên
vẹn, mặc dù vùng ven đô đã bước vào quá trình đô thị hoá một cách quyết
liệt nhất, mặc dù cây cầu Thăng Long lớn nhất Đông Nam Á vạch một nét
ngang ngay cạnh làng, gần như vuông góc với con đê bê-tông chắn ngang
qua trước cửa ngôi đình cổ...
Lần theo những con đường lát
gạch nghiêng cổ kính, kết quả của những lần nộp cheo của các cô gái làng
từ xa xưa, ta như thấy cả một quá khứ xa xăm hiện về cùng với làn khói
bếp nhà ai đang lẫn giữa rêu phong của một toà cổng cũ... Và hôm nay đi
dọc theo các ngõ nhỏ trong làng, thảng hoặc ta như được đắm chìm vào dĩ
vãng của một thời xưa cũ còn vọng tiếng bình văn của kẻ sĩ, tiếng nô đùa
của con trẻ và cả tiếng chuốt giang làm quang gánh, tiếng quay đất nặn
nồi, tiếng giã giò rao nem đâu đây...
Và ta gặp ngay nghi môn
đình làng Đông Ngạc - một ngôi đình có quy mô to lớn, nhiều hạng mục
với các thành phần kiến trúc cổ kính và chuẩn mực đã tồn tại từ 500 năm
nay. Đình được xây dựng trên một thế đất cao ráo, đắc địa ở phía Bắc
làng, sát với đê sông Hồng. Tương truyền đình vốn xưa là một toà miếu cổ
có từ thời Đường vào thế kỷ thứ VII. Năm 1635, dân làng đã cải tạo và
mở rộng thành đình để thờ Thành Hoàng làng. Đình thờ 3 vị thần tượng
trưng cho cả Thiên - Địa - Nhân. Thiên thần là Thần Độc Cước, do Phan
Phu Tiên - một người làng rước về từ Sầm Sơn, Thanh Hoá; Nhân thần là Lê
Khôi, cháu vua Lê Thái Tổ, cũng là một tướng lĩnh, được người làng là
Đô đốc Đồng Xuyên Hầu rước về từ Nghệ An; Địa thần là Bản thổ Thành
hoàng. Ngoài ra Đình còn thờ tiến sĩ Phạm Quang Dũng là người làng có
công đứng ra trùng tu đình năm 1718 và ông Phạm Thọ Lý, người đã cung
tiến đất làm đình lần đầu năm 1635. Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều
hiện vật quí, có giá trị như bia đá và bộ tranh sơn mài thời Lê, các
nhang án gỗ được chạm khắc tinh xảo, trau chuốt.
Hàng năm,
vào ngày 09 tháng 2 âm lịch là ngày hội làng. Xưa làng Đông Ngạc vào
đám, có hát ca trù mấy ngày liền, với nhiều nghi lễ trang trọng và
nghiêm trang. Lê Đức Mao (1462 - 1529) một người hay chữ trong làng đã
thay mặt các giáp, soạn ra 9 bài thơ dài để đọc lên lúc thưởng lụa và
tiền cho các đào nương.
Và 9 bài thơ đó là tư liệu chữ viết
đầu tiên về ca trù trong kho tàng di sản Hán Nôm, và cũng là cứ liệu sớm
nhất về thơ lục bát và song thất lục bát trong lịch sử văn học Việt
Nam.
Làng có chùa Tư Khánh, một ngôi chùa có từ rất sớm. Theo
danh sĩ Phạm Đình Hổ, chùa còn có quả chuông đúc năm Diên Hựu thứ 2 tức
năm 1315 (Diên Hựu là niên hiệu nhà Nguyên - Trung Quốc). Trong chùa
hiện còn có tấm bia có niên đại Thịnh Đức ghi rõ công đức của vợ chồng
ông Nguyễn Phúc Ninh, cúng gia tư điền sản để tu bổ, dựng lại chùa, và
được dân làng tôn làm Hậu Phật. Cùng với quần thể kiến trúc của chùa bao
gồm tam quan, gác chuông, phương đình, tiền đường, hậu cung và nhà Tổ;
những pho tượng được tạo tác công phu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ
XVIII - XIX càng tôn thêm giá trị của ngôi chùa.
Nhà thờ Đỗ
Thế Giai, một quan chức cao cấp thời Lê Trịnh là nơi còn giữ được khá
nhiều những di vật có giá trị. Đây cũng là ngôi nhà được chọn làm bối
cảnh quay nhiều phim truyện, phim truyền hình. Bên cạnh nhà thờ họ Đỗ,
còn hàng loạt các nhà thờ họ khác nữa, như các họ Phạm, Phan, Nguyễn,
Hoàng. Làng có 6 xóm, hiện tồn tại trên 100 ngôi nhà cổ có thời gian xây
dựng trên 100 năm, nhiều ngôi nhà gỗ được đục chạm công phu thể hiện
nét tài hoa của các nghệ nhân xưa.
Làng Đông Ngạc nằm bên
sông Nhị, nơi có bến Ngác và chợ Vẽ nổi tiếng khắp kinh kỳ. Vào cái thuở
đường thủy còn là huyết mạch giao thông thì bến Ngác khi ấy là một nơi
trên bến dưới thuyền và chợ Vẽ là một "trung tâm thương mại". Đông Ngạc
là tên chữ của làng Vẽ, vốn là một làng nổi tiếng về một số nghề thủ
công truyền thống như chuyên sản xuất nem ("giò Chèm, nem Vẽ"), làm
quang gánh, nặn nồi đất...
Giàu mạnh về kinh tế, lại có vị
trí gần sát với kinh thành Thăng Long nên người dân trong làng rất thuận
tiện khi ra kinh ăn học hoặc rước thầy giỏi từ kinh đô về dạy trong
làng. Và làng Đông Ngạc đã góp cho đất nước 25 vị Tiến sĩ và cả ngàn
Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài... Làng Đông Ngạc vì thế đã nổi
tiếng với các danh nhân như thời phong kiến có Phan Phu Tiên, Đỗ Thế
Giai, Lê Đức Mao, Phạm Gia Chuyên, Hoàng Nguyễn Thự... thời cận đại với
Phan Văn Trường, Hoàng Tăng Bí... và ngày nay là Hoàng Minh Giám (cố Bộ
trưởng Bộ Văn Hoá), GS-TS Phạm Gia Khánh (Giám đốc Học viện Quân Y),
GS-TS Phạm Gia Khải (Viện trưởng Viện Tim Mạch), TS Phạm Gia Khiêm
(đương kim Phó Thủ tướng Chính phủ) và nhiều nhà khoa học, chính khách
danh tiếng... Người Đông Ngạc làm quan khắp nơi và không thời nào không
có các vị triều quan về làng đóng góp tiền của và trí tuệ để xây dựng
quê hương.
Khó có thể nói hết, viết hết về những vẻ đẹp của
Đông Ngạc, một làng có nhiều nhất các bản sách cổ còn lưu tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm, một làng ven đô mà nét cổ xưa còn lưu lại trên lối
mòn gạch nghiêng in dấu chân gái làng xuất giá, trên rêu phong cổng ngõ
gió lùa, trên bia đá chùa xưa và trong cả nét đẹp tảo tần chăm chỉ trong
nếp sống từ ngàn xưa truyền lại.
Hà Nội, 2005.
|