|
Gương sáng hiếu học và thành đạt
DÒNG HỌ ĐỖ HỮU (gốc Hậu Lộc – Thanh
Hóa)
LẠI CÓ THÊM MỘT NỮ TIẾN SỸ !
Hữu Anh (Người họ Đỗ Hữu tại Tp Thanh Hóa)
(Viết theo tư liệu và lời kể của gia đình)
Cuối tháng 7/2018 nhà giáo Đỗ Thị Thanh Hương, 37 tuổi,
đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ (TS) Triết học, chuyên ngành Mỹ học (tức
khoa học Thẩm mỹ). Thế là dòng họ Đỗ Hữu (gốc Hậu Lộc, Thanh Hóa) lại có thêm một
TS. Đây là người thứ 3 trong các lớp hậu duệ của cụ cố Tổ Đỗ Hữu Khanh đạt được
học vị cao này của thời tân học (chữ quốc ngữ, tiếp sau thời Hán học). Giở lại
lịch sử phát triển hơn 100 năm lại đây của dòng họ này (thực ra là một tiểu
dòng họ tách ra) thì thấy, chỉ từ sau năm 1945 số bà con đến được với học vấn
phổ thông mới có điều kiện tăng dần, và hiện nay không còn ai mù chữ. Nhưng số
người đạt được học vị cao (Cử nhân,Thạc Sỹ, TS) tuy cũng đang tăng lên, song vẫn
còn rất khiêm tốn, riêng học vị TS thì mới chỉ có 3 người.
- Năm 1990, Đỗ Thị Thanh
Hoa, là chắt của cụ Khanh (tức hậu duệ đời thứ 3), thuộc chi 6 nhánh 1 của dòng
họ, với ngành Địa lý.
- Năm 2012, Đỗ Thị Thanh Hà,
là chút của cụ Khanh (tức hậu duệ đời thứ 4), thuộc chi 5 nhánh 1 của dòng họ,
với ngành Ngôn ngữ học ứng dụng, làm nghiên
cứu sinh tại Australia.
- Năm 2018, Đỗ Thị Thanh
Hương, là chút của cụ Khanh (hậu duệ đời thứ 4), thuộc chi 5 nhánh 1 của dòng họ,
với ngành Triết học, chuyên ngành Mỹ học.
Có một sự ngẫu nhiên đáng lưu tâm nghiên cứu
là cả 3 TS đều là nữ, nghĩa là dòng họ này chưa có học vị cao thuộc nam giới.
Điều chú ý tiếp theo của chúng ta là cả 3 đều có tên lót Thanh, ẩn chứa một dụng
ý sâu xa về cội nguồn quê hương mà các bậc cha mẹ đã ngẫu nhiên cùng nghĩ tới khi
đặt tên con. Và điều thứ 3 có lẽ cũng do ngẫu nhiên nhưng khá thú vị, mà còn ít
người biết, là đặc biệt 2 trong 3 nữ TS đó lại là chị em ruột.
Trong cái thời buổi nhiễu nhương của nền
giáo dục nước nhà hiện nay, nhất là trước cái tệ nạn “lạm phát” học vị cao
(ThS, TS) và học hàm cao (PGS, GS), thì hình như việc vinh danh những người
thành đạt bằng con đường học hành, nghiên cứu như trên đang trở nên nhàm chán, không
còn ý nghĩa văn hóa như trước đây nữa, đang trở nên tầm thường vô vị, thậm chí
còn bị coi là lỗi thời, lạc điệu, là trò cười, vì đang bị coi như là một sự cổ
vũ cho thói dối trá ! Nhưng người viết bài này lại nghĩ khác, bởi vì không phải
tất cả hơn 24 000 TS hiện nay đều cùng một giuộc đáng coi thường như vậy đâu ! Vì thực trạng đang có sự lẫn lộn khá nặng nề
giữa thật và giả, tốt và xấu, nên lại càng cần phải đề cao cái tốt, cái thật để
góp phần tích cực hạn chế, ngăn chặn cái xấu, cái giả. Và nếu chúng ta “giải độc” được bậc học cao nhất
này thì chắc chắn sẽ làm rung động cả toàn bộ hệ thống giáo dục, nhanh chóng
làm trong sạch được các cấp/bậc học ở dưới đang nhan nhản rác rưởi, như những bộc
lộ qua kỳ thi THPT quốc gia vừa qua. Cứ đọc những con số trên các hệ thống truyền
thông thì chúng ta đều biết Việt Nam hiện có khoảng 24 300 TS, nhiều nhất trong
khối ASEAN và cao gấp 5 lần số TS của Nhật. Nhưng trình độ khoa học của Việt
Nam lại thấp kém, công trình sáng tạo khoa học và công nghệ lại quá ít ỏi, lại
chưa có một trường đại học nào lọt được vào tốp 500 đại học tốt nhất châu Á ! Trong
khi đó chỉ có hơn một nửa số TS nói trên, khoảng 15 000, là đang hoạt động khoa
học (giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học), nghĩa là
làm việc đúng với mục tiêu đào tạo của bậc học TS. Số còn lại chủ yếu đang làm
quan chức lãnh đạo và quản lý trong hệ thống chính trị, nghĩa là làm việc trái
với mục đích đi học của họ, và không cần đến tí chuyên môn nào mà họ theo học
(trừ phương pháp tư duy khoa học thì tuy rất cần, nhưng học ở đâu mà chả được).
Đó là một hiện tượng rát bất thường, một sự lãng phí lớn cả về nguồn lực chất
xám và tài chính, và đang trở thành một trò cười cho thiên hạ toàn cầu. Xu hướng
chung của khá đông các nghiên cứu sinh (NCS) Việt Nam hiện nay là cố giành cho được
học vị TS để bước lên con đường thăng tiến của đội ngũ quan chức, và chính nhiều
cấp lãnh đạo cũng đang khuyến khích như vậy (điển hình nhất là Hà Nội). Với việc
giành vé vào danh sách các học hàm cao (PGS, GS) cũng có tình hình tương tự,
tuy có nhẹ hơn một chút. Bởi vậy chính ngay trong công việc vốn là nghiêm túc
này lại đang diễn ra nhan nhản các hiện tượng trái mắt và tiêu cực : không học
được hoặc không học thật, không biết làm đề tài nghiên cứu khoa học, phải chạy
chọt, đạo văn, rồi cơ hội trong khoa học, háo danh, gian dối đủ các kiểu dạng,
… Chính môi trường đó đã tạo nên hàng trăm, thậm chí có khi đến hàng ngàn, những
TS dởm, giả, không có trình độ thực chất, không đủ năng lực làm khoa học (giảng
dạy và nghiên cứu khoa học ở bậc đại học),…, đúng là “hữu danh vô thực” mà dân
gian thường gọi họ là “TS giấy” !... Những dạng TS dởm, TS giấy đó hiện đang
trú ngụ nhiều nhất là trong giới quan chức, đã và đang làm cho bộ mặt giới quan
chức càng thêm xấu hơn. Trong khi đó thì những người học thật, học đúng mục
đích, học giỏi thì lại hình như ngày càng ít đi và luôn “lép vế” trước bộ phận
cơ hội, thực dụng vừa nói trên (vì họ thiếu cả quyền và tiền !).
Người viết bài này muốn góp phần tìm ra và
vinh danh những TS ở dạng “lép vế” đó, tức là những NCS thứ thiệt, những TS
đúng ”mác”, như TS Thanh Hương mà bài viết
có nhã ý giới thiệu ngay từ phần đầu.
Trước hết, TS Hương đã học đúng mục đích là để
làm khoa học (giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở đại học), nên cô đã học
thật để đạt được kết quả thực chất. Ở đơn vị công tác (Học viện Quản lý
GD) cô được phân công giảng dạy Triết học và các chuyên đề Mỹ học, nên khi làm
NCS cô đã đăng ký đúng chuyên ngành Mỹ học, cũng là một lĩnh vực khoa học mà cô
đam mê. Do vậy mà, trong suốt thời gian theo học, dù hoàn cảnh gia đình có nhiều
khó khăn, cô cũng chưa bao giờ có ý định bỏ cuộc, mà càng quyết tâm hơn để theo
học đến cùng. Hai con còn nhỏ, nhà cách xa trường gần 20km, chồng cũng bận giảng
dạy suốt tuần ở một trường đại học khác và nhiều khi còn phải đi dạy ở cơ sở 2
xa nhà. Cô làm NCS theo chế độ “vừa học vừa làm” nên quỹ thời gian dành riêng
cho việc học và nghiên cứu khoa học hàng ngày hàng tuần rất có hạn. Rồi còn
gánh nặng chi tiêu của gia đình, trong khi lương của 2 vợ chồng lại quá eo hẹp,
phải cân nhắc từng khoản chi, phải biết
chi tiêu tùng tiệm, … tất cả những cái đó đều chi phối và thường xuyên ảnh hưởng
đến việc học của cô. Nhưng rồi mọi việc đều đã qua được, nhờ quyết tâm của cô
và sự trợ giúp của chồng, sự hỗ trợ và chia sẻ của người thân và bạn bè.
Trong quá trình học, cô đã luôn đề cao nội lực,
không ỷ lại và dựa dẫm, và đặc biệt là biết phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu,
năng lực sáng tạo mà cô đã tạo dựng được, tích lũy được từ những năm
tháng trước đó, từ thời học phổ thông, đại học, cao học. Chính nhân tố chủ quan này đã trực tiếp giúp
cô phấn đấu đảm bảo được chất lượng học và nghiên cứu khoa học theo đúng yêu cầu
của khóa học, và đã hoàn thành khóa học thật tốt đẹp.
Nói đến thành công hôm nay của TS Thanh Hương
thì không thể không nhắc đến tấm gương sáng cua chị cô – TS Đỗ Thị Thanh Hà trước
đó 6 năm, về cả mặt nghị lực và mặt năng
lực tự học và năng lực sáng tạo (Xin xem lại bài báo “Câu chuyện vè một nữ Tiến
sỹ họ Đỗ…”, có đăng tải trên website
HĐVN năm 2013).
Nếu nhìn lại những năm tháng quá khứ, thì chúng
ta lại càng thấy rõ hơn ý chi vươn lên và năng lực tự học của TS Thanh Hương trên
con đường học tập, rèn luyện để trưởng thành. Khi học phổ thông thì đầy rẫy khó
khăn về đời sống vật chất của thời bao cấp. Khi lên đại học thì luôn phải lo đến
các khoản chi tiêu hàng thàng, từ nguồn cung cấp eo hẹp, sít sao của bố mẹ còn
túng thiếu. Khi đi xin việc thì vất vả, long đong vì không có tiền để chạy. Trong
thời gian chờ việc phải lang thang qua khá nhiều tòa soạn để nhận làm cộng tác
viên nghiệp dư cho các tạp chí khoa học giáo dục (đi đặt bài ở các GS, PGS, rồi
nhận bài về giao cho tòa soạn, rồi thanh toán nhuận bút cho tác giả, …). Khi học
cao học và làm NCS, ngoài cái khó chủ yếu
là nội dung học thuật, thì điều lo lắng thường xuyên trong từng giai đoạn của
khóa học lại cũng là các khoản chi tiêu, khá nhiều và thường là bất thành văn.
…
Viết lại câu chuyện về TS Đỗ Thị Thanh
Hương, trước hết người viết mong muốn được chia sẻ niềm vui với gia đình cô, với
bà con dòng họ Đỗ Hữu – Hậu Lộc, Thanh Hóa. Người viết còn muốn nhắn gửi lại với
các em, các cháu thế hệ trẻ của dòng họ Đỗ Hữu và của cộng đồng HĐVN nói chung
là hãy cố gắng học theo tấm gương hiếu học của các cô, các chị đàn anh đàn chị
đó, trước hết là trong việc học hành hiện nay. Trong đó phải đặc biệt chú ý tạo
dựng cho được năng lực tự học, rồi từ đó mới vươn lên để có năng lực sáng tạo, như mục tiêu Giáo dục
Việt Nam đã xác định !
Ngoài ra người viết cũng xin mạn phép được
góp đôi lời khuyên chân thành, được nêu một
vài đề nghị nghiêm túc,…với những đối tượng liên quan đến việc học ở bậc cao này,
như sau :
- Với những ai đang có dự định
và kế hoạch học TS thì hãy cân nhắc kỹ về mục đích học, nếu không vì để làm
khoa học (giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở bậc đại học trở lên) thì không nên
đăng ký học TS. Nếu ai đang theo học thì phải học thật bằng chính năng lực của bản thân, đặc biệt là năng lực tự
học và năng lực sáng tạo. Phải biết kết hợp việc học tri thức khoa học với việc
nghiên cứu khoa học, theo đòi hỏi cao của bậc học này.
- Lãnh đạo các cấp cần xóa bỏ
quy định coi bằng TS là một tiêu chí cứng để được tuyển vào biên chế quan chức
lãnh đạo, quản lý. Chấm dứt việc cử quan chức đi học NCS để rồi lại về làm lãnh
đạo, quản lý. Trả lại các vị TS đang làm quan chức trở về môi trường khoa học ở
các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu.
- Các cơ sở đào tạo sau đại
học hãy rà soát lại, chấn chỉnh lại qui trình đào tạo của mình theo đúng chuẩn
của bậc học này. Ngăn chặn bằng được các hiện tượng tiêu cực như đạo văn, chạy
chọt, thương mại hóa,…để sớm chấm dứt hiện tượng quá coi trọng số lượng mà coi
nhẹ chất lượng, để xóa bỏ ngay việc cho ra lò những TS giấy, TS dởm, … mà cả xã
hội đang chê trách và lo ngại.
- Cả xã hôi, bắt đầu từ mỗi
gia đình, dòng ho, thông qua việc giáo dục lớp trẻ, hãy kịch liệt lên án, phê
phán để ngăn chặn các thói hư gian dối, háo danh, cơ hội, … ngay trong công việc
học tập, nghiên cứu khoa học đang làm. Báo chí rất nên và rất cần phải vào cuộc
trong nhiệm vụ làm trong sạch này đối với văn hóa và giáo dục nước nhà.
Cuối
cùng, người viết cũng xin được gửi tới TS Hương một điều mong ước tất yếu và chân
thành về một kỳ vọng khoa học mà TS Hương có thể vươn tới trong một tương lai gần.
Đó là một sự khởi sắc thật sự của chuyên ngành Mỹ học ở Việt Nam, là sự phát
triển sâu hơn và cao hơn nội dung đề tài luận án của cô. TS hãy cố gắng phát
huy năng lực sáng tạo và tinh thần tự do học thuật để có những đóng góp mới hơn
theo hướng tiếp cận gần hơn nữa với những giá trị có tính phổ quát của thế giới
hiện đại trong lĩnh vực học thuật này, cố gắng làm được những gì mà các bậc đàn
anh chưa làm được, do những hạn chế về năng lực và ý thức hệ !
Tháng 8 năm 2018
L A
|