Thứ ba, 30/06/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
CÓ MỘT NGƯỜI HỌ ĐỖ DÀNH CẢ ĐỜI ĐI TÌM VÀ GIẢI MÃ CHỮ VIỆT CỔ E-mail
23/10/2007
CÓ MỘT NGƯỜI HỌ ĐỖ DÀNH CẢ ĐỜI ĐI TÌM  VÀ GIẢI MÃ CHỮ VIỆT CỔ 

Cách đây 48 năm có một thanh niên 22 tuổi quê ở Thái Bình, từ trường đại học Sư phạm Hà Nội về nhận nhiệm vụ làm hiệu trưởng trường cấp II đầu tiên của khu công nghiệp Việt Trì. . Đó là nhà giáo trẻ Đỗ Văn Xuyền.

Việt Trì ngày ấy vẫn còn giữ được dáng vẻ nguyên sơ của một vùng đất cổ, kinh đô Văn Lang với những: Lầu Thượng, Lầu Hạ, Kẻ Lư, Thậm Thình, Mã Quàng... Những học sinh của anh đi lao động còn gánh về những Dao, Mác, Trống đồng, minh khí, nhặt được ở công trường.

Một lần đi thăm học sinh qua đồi Giàm, anh thấy những người trồng sắn cuốc lên nhiều rìu, búa đá. Nhiều đến mức tưởng như nơi đây đã từng là một công trường chế tác đồ đá mới.

...Anh bắt đầu với việc tìm lại dấu tích người xưa. Đầu năm 1980 anh mới lại có dịp trở lại Việt Trì. Với cương vị Chủ tịch Hội văn nghệ. và trưởng ban Văn hoá xã hội của thành phố (lúc này anh đã là nhà văn với bút danh Khánh Hoài) đã có dịp đi sâu xuống thôn xóm để thực hiện ước mơ xưa.

Một lần đi qua quả đồi nhỏ ở thôn Hương Lan - trung tâm cố đô - anh thấy một ngôi miếu nhỏ đổ nát nằm dưới tán hai cây Táu cổ thụ đã hơn ngàn năm tuổi. Đọc ngọc phả, anh kinh ngạc khi biết đây là đền Thiên cổ, thờ một thầy giáo thời Vua Hùng thứ 18. Trong lòng miếu còn có mộ của thầy giáo mà nhân dân đã bí mật bảo vệ suốt mấy nghìn năm qua.

Từ ngôi miếu nhỏ ở cố đô, anh còn tìm ra rất nhiều nơi thờ các thầy giáo và học trò thời trước Hán (thời Hai Bà Trưng, thời An Dương Vương và đặc biệt là thời Hùng Vương...) ở rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh. Năm 186 công nguyên, Sĩ Nhiếp mới đưa chữ Hán vào Việt Nam. Như vậy các thầy giáo thời Hùng Vương dạy thứ chữ gì? Phải chăng dân tộc ta đã có chữ viết riêng từ rất sớm.

Anh lại lao vào các thư viện, tìm đọc thư tịch trong và ngoài nước ở lĩnh vực này và anh đã gặp may, vì có rất nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng.

Một lần trên đường đi tìm kiếm anh đã dừng chân bên ngôi miếu nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả từ thời Trần Thái Tông với những dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa dấu".

Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ, đó là điều khẳng định chắc chắn. Nhưng thứ chữ đó hình dạng ra sao? Cấu trúc thế nào? Anh lại lao vào cuộc tìm kiếm mới.

Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, và cuộc đốt phá hết thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì?

Anh đã tìm đến những nơi đồn là có chữ Việt cổ. Nhưng đôi khi thất vọng: Chữ khắc trên viên gạch ở Hoàng thành Thăng Long chỉ là chữ Chăm và những trang sách trên lá buông ở đỉnh Trường Sơn và ở Thư viện Nghệ An chỉ là chữ Lào cổ. Nhưng anh vẫn tim vào sự cất giấu lưu giữ của tổ tiên về chữ Việt cổ (như khi đi tìm dấu vết của các thầy giáo thời trước Hán).

Anh đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo hết lớp rêu phủ, anh đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh.

Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", anh hướng tìm tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây dãy Trường Sơn.

Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi, anh đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là anh có thể "cầm cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra chữ Việt cổ của anh.

Trong các tài liệu sưu tầm được, anh đặc biệt chú ý đến một bộ chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm như mách bảo, anh đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ đã giúp anh rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Cho tới một ngày anh đã khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, đã tìm ra được hình dạng, chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã nhầm là chữ Mường, chữ Thái...

Qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ HauĐricourt, anh khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ này".

Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, anh lại tìm đến các vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng Mường nhưng không đầy đủ. Anh lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm.

Thứ ký tự này đã giúp anh ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của họ, đã giúp anh giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp anh giải thích được nhiều vấn đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm 20 của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Chữ Nguyễn ái Quốc được viết là Nguyễn ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822, chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào.

Cũng như vậy anh có thể chứng minh được một nền văn tự có trước Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư Hà Văn Tấn đã mời anh về Hà Nội nghe anh kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và khi được anh tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng mà anh đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà nước".

Nhân dịp Quốc khánh 2005 trong chuyến về công tác ở Việt Trì - Phú Thọ, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tìm gặp anh và gửi thêm tài liệu cho anh. Khi thấy anh còn băn khoăn, Chủ tịch đã động viên: "Anh Xuyền cứ tiếp tục công việc, sẽ có ngày sử dụng đến kết quả này". Ngày ấy, anh đoán chắc còn xa lắm... (1)

Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn sách cổ có chữ lạ. Nhóm chúng tôi đã tìm đến và phôtô được một số trang đưa về cho anh. Anh cầm lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở vùng Tây Bắc cho đến ngày nay.

Hoàng Đạo Lý

(1) Mới gần đây gần đây ông Đỗ Văn Xuyền lại có dịp báo cáo công trình của mình lên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân.

 

 
chu_viet_co

 Buổi trao đổi khoa học về đề tài chữ viết cổ của người Việt  tại trung tâm văn hoá người cao tuổi

Từ trái sang phải: ông Đỗ Văn Xuyền ( nhà văn khánh Hoài), giáo sư Lê trọng Khánh, phó giáo sư Đỗ Tòng- nguyên trưởng Ban liên lạc HĐVN, ông Lê Văn Ánh- nguyên phó trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng, trưởng BLL họ Lê VN.

 

Khánh Hoài, Nhà văn
(Bút danh khác: Bảo Châu)

Tên Khai sinh: Đỗ Văn Xuyền, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1937. Quê gốc: xã Đông Kinh, Đông Hưng, Thái Bình. Nơi ở hiện nay: thành phố Việt Trì. Tốt nghiệp Đại học sư phạm (khoa sinh ngữ). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1981)

Khánh Hoài học tiểu học và trung học ở Thái Bình, Hà Nội và Hải Phòng. Thời kỳ học Trung học đã tham gia hoạt động bí mật trong phong trào học sinh, sinh viên. Năm 1956-1959 học Đại học sư phạm Hà Nội. Từ 1959-1987: Dạy học, làm hiệu trưởng nhiều trường phổ thông ở Vĩnh Phú. Từ 1988 đến nay: Chi Hội trưởng chi hội Văn nghệ Việt Trì; Trưởng Ban Văn hóa-Xã hội và Phó chủ nhiệm thường trực ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em thành phố Việt Trì.

Tác phẩm đã xuất bản: Trận chung kết (truyện dài, 1975); Những chuyện bất ngờ (truyện vừa 1978); Cuộc chia tay của những con búp bê (truyện, 1992); Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà (hay Băng ngũ hổ, truyện vừa, 1993-1994)

Nhà văn đã được nhận: giải A, giải Văn nghệ Vĩnh Phú 10 năm (1975-1985) (truyện dài Trận chung kết). Giải chính thức giải thưởng Hùng Vương (Hội Văn nghệ Vĩnh Phú) (Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà).

 

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn