Trung Quốc khảo sát và uy hiếp bên trong EEZ 200 hải lý của Việt Nam – Bản đồ Phan Van Song
Tác giả: Dương Danh Huy
“Tránh sao khỏi tai họa về sau”
Từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019, với một sự leo thang lấn lướt kép,
Trung Quốc vừa điều tàu cảnh sát biển Hải Cảnh 35111 uy hiếp các tàu
tiếp tế giàn khoan hoạt động tại mỏ Lan Đỏ trong Lô 06-01, vừa điều tàu
Hải Dương Địa Chất 8, với một đội tàu hộ tống hùng hậu đến khảo sát các
lô 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156 và 157 trên một diện tích 31.000
km² trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.
Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) không cho phép đơn phương khảo sát
tài nguyên hay nghiên cứu khoa học biển trong EEZ của nước khác.
Năm 2017 và 2018 Trung Quốc đã gây áp lực khiến Việt Nam phải ngưng
Repsol hoạt động trong các lô 07-03 và 136-03 gần đó, và năm 2012, để
trả đũa việc Việt Nam ban hành luật biển, Trung Quốc đã rao thầu cho
160.000 km² trong EEZ của Việt Nam, trong đó có các lô 130, 131, 132,
133, 154, 155, 156 và 157, mà họ gọi là RJ03 và RJ27. Dĩ nhiên động thái
mới của Trung Quốc là những bước tiến trong một quá trình có chủ đích
và sẽ không phải là những bước cuối cùng.
Các lô 05-2, 05-3, 06-1, 07-3, 136-3, công ty dầu khí từng và đang bị đe dọa – Bản đồ MM Marine
Ngày xưa, Trần Hưng Đạo thấy “sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ; ỷmệnh
Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác
hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật
khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau“, làm ông “thường
tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho
trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng
nguyện xin làm.”
Ngày nay, Việt Nam lại đứng trước tình trạng “hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau”
và Bắc Kinh lại uốn tấc lưỡi bảo Việt Nam phải “ứng xử cho đúng”, “tôn
trọng chủ quyền Trung Quốc” và “đừng làm phức tạp tình hình”.
Chúng ta không sánh được với người hùng anh xưa, nhưng may mắn được
sống trong một thế giới có những biện pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi
của đất nước. Nếu bỏ phí cả những biện pháp đó thì “chẳng khác nào
quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc… há còn
mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?”
Cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS
Bài viết này sẽ cố gắng, qua các câu hỏi và trả lời, cung cấp thông
tin về một trong những biện pháp văn minh nhất, bình đẳng nhất, với nó
chí nhân có thể thay cường bạo như Nguyễn Trãi đã viết. Đó là kiện Trung
Quốc.
1. Kiện Trung Quốc về điều gì?
Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
2. Nếu Trung Quốc không chấp nhận ra tòa?
UNCLOS, trong Phần XV và các Phụ lục liên quan, quy định về một cơ
chế giải quyết tranh chấp bắt buộc cho các quốc gia thành viên, trong đó
có Việt Nam và Trung Quốc. Cơ chế này cho phép các thành viên kiện nhau
về các tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công Ước,
trong đó có tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Với cơ chế này, dù Trung Quốc không chấp nhận ra tòa cũng không ngăn
cản được vụ kiện. Trung Quốc cố ý không giải quyết tranh chấp một cách
công bằng, và mục đích của cơ chế này chính là để cho các thành viên
UNCLOS có thể thoát khỏi những sự cố ý tồi tệ như thế.
Tuy cơ chế này cần hội tụ đủ một số điều kiện và có một số hạn chế,
thí dụ như trong Điều 297 và 298, việc vụ kiện Phi-Trung 2013-2016 được
thụ lý cho thấy khả năng là nếu Việt Nam kiện và Trung Quốc không chấp
nhận ra tòa thì tòa cũng sẽ thụ lý.
3. Sao không kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa?
Bản chất của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp chủ quyền, không phải là diễn giải và áp dụng UNCLOS.
Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS không bao gồm những
tranh chấp mà bản chất là tranh chấp chủ quyền. Tòa án Công lý Quốc tế
cũng không có thẩm quyền để xử tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa cho đến
khi mọi bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa bằng một
trong những hình thức trong Điều 36 và 37 của Quy chế của Tòa, và hiện
nay điều kiện đó chưa được đáp ứng.
4. Tòa nào sẽ xử?
Điều 287 của UNCLOS cho phép các bên trong tranh chấp tuyên bố chọn
phương tiện phân xử, thí dụ như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài
Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), nhưng phương cách mặc định là một Hội
đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục
VII của UNCLOS.
Hội đồng bao gồm năm trọng tài: mỗi bên được chọn một và các bên cùng
nhau chọn số còn lại. Nếu không đủ năm trọng tài vì các bên không đồng ý
với nhau, hay có bên không chọn, thì Chủ tịch Tòa Trọng tài Quốc tế về
Luật Biển sẽ chọn. Chính một HĐTT như thế đã phân xử vụ kiện Phi-Trung
Philippines chọn một trọng tài, nhưng Trung Quốc không tham gia, và Chủ
tịch ITLOS Shunji Yanai chọn bốn trọng tài còn lại.
5. Hội đồng Trọng tài không phải là Tòa án Công lý Quốc tế, phán quyết của họ có ý nghĩa gì không?
Phán quyết của HĐTT được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS hoàn
toàn có tính ràng buộc giữa các quốc gia trong vụ kiện, đối với các quốc
gia này thì không khác gì Tòa án Công lý Quốc tế đã xử. Thí dụ, phán
quyết 2016 có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, dù Trung
Quốc không công nhận.
Tuy nhiên, phán quyết đó không có tính ràng buộc giữa các quốc gia đó và các bên thứ ba.
6. Phán quyết 2016 đã bác bỏ Đường Chữ U rồi, kiện nữa làm gì?
Phán quyết đó chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc.
Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung
Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc.
Lợi ích và khả năng thắng
7. Kiện có ích gì khi Trung Quốc sẽ không tuân thủ?
Chắc chắn Trung Quốc sẽ không tự nguyện tuân thủ phán quyết, cũng như họ đã không tuân thủ phán quyết 2016 về vụ kiện Phi-Trung.
Nhưng một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, sẽ vô
cùng hữu ích trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Các nước khác,
đặc biệt là Mỹ, có thể ủng hộ Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận,
không thể bị cho là thiên vị một bên trong tranh chấp và sự ủng hộ của
họ sẽ có nhiều trọng lượng hơn.
Trung Quốc sẽ không thể ngụy biện rằng họ đang giải quyết và quản lý
tranh chấp với các nước nhỏ một cách tốt đẹp, các nước ngoài khu vực
không nên xen vào. Các nước khác có thể lên tiếng bảo vệ các công ty dầu
khí của họ khi các công ty này làm việc với Việt Nam, Trung Quốc không
thể yêu cầu họ rút ra khỏi “vùng tranh chấp”.
Nếu trong tương lai Việt Nam phải đưa tranh chấp ra LHQ, vì chắc chắn
là Trung Quốc sẽ leo thang lấn lướt, nếu có trong tay một phán quyết
xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, Việt Nam sẽ được nhiều phiếu ủng
hộ hơn.
Ngoài ra, phán quyết của HĐTT UNCLOS sẽ xứng đáng với chính nghĩa của
Việt Nam hơn là cử người phát ngôn BNG, thậm chí cử ngoại trưởng, ra
lặn ngụp trong cù nhầy với các tương nhiệm Trung Quốc, trong khi Bắc
Kinh càng ngày càng lấn tới.
8. Lập luận của Việt Nam sẽ là gì?
Lập luận của Việt Nam có thể là:
- Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133,
154, 155, 156, 157 và một phần của bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ
lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
- Phần còn lại của bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam.
- Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do
đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước
nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác
với chủ quyền) dựa trên nguyên tắc đất thống trị biển và UNCLOS.
- Các khu vực này không thể nằm trong
EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các
đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không
đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã
khẳng định).
- Trung Quốc không thể có quyền lịch sử
đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý
HĐTT 2016 đã khẳng định rằngTrung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối
với vùng biển và đáy biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể
bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai
thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do
tự do tiền-UNCLOS của các nước khác khai thác bên trong EEZ của họ. Việc
phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).
- Vì vậy các khu vực này hoàn toàn thuộc
quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. (Lưu ý đây là những
quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước
nào có thể có).
- Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.
9. Khả năng Việt Nam thắng là bao nhiêu?
Để thắng, Việt Nam phải vượt qua ba thử thách: Hội đồng Trọng tài có
thẩm quyền hay không (vấn đề jurisdiction), vụ kiện có thể được chấp
nhận hay không (vấn đề admissibility), và các lập luận của Việt Nam có
đúng hay không (vấn đề merit). Ba thử thách này dựa trên cùng các nguyên
tắc trong vụ kiện Trung-Phi.
Tuy HĐTT mới không bị phán quyết 2016 bắt buộc phải xử Việt Nam thắng, khả năng là Việt Nam cũng sẽ thắng.
Thử thách thứ nhất tương đương với trong vụ kiện Trung-Phi, và khả năng là HĐTT mới cũng sẽ kết luận rằng họ có thẩm quyền.
Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể cho rằng cả hai nước đều đòi
chủ quyền trên quần đảo Trường Sa như một đơn vị bao gồm các thực thể và
các vùng nước, do đó tranh chấp là tranh chấp chủ quyền và nằm ngoài
thẩm quyền của HĐTT. Nhưng yêu sách của bất cứ nước nào cũng phải dựa
trên nguyên tắc đất thống trị biển, và thêm vào đó các vùng biển trong
vụ kiện nằm quá xa quần đảo để bất cứ nước nào có thể đòi chủ quyền với
chúng như một đơn vị với quần đảo, cho nên lập luận đó sẽ bị bác bỏ.
Trong thử thách thứ nhì, Việt Nam có một điểm
mà Philippines không có, đó là bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ
bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước CHXHCN Việt Nam và
nước CHND Trung Hoa” ngày 11/10/2011, trong đó có câu “Đối với tranh
chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua
đàm phán và hiệp thương hữu nghị”.
Các luật gia ủng hộ Trung Quốc có thể khai thác câu này, diễn giải
rằng nó đã loại cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS. Tuy
nhiên, lập luận của HĐTT của vụ kiện Phi-Trung trong phán quyết về thẩm
quyền, đoạn 222-225, tuy là về DOC, cho thấy khả năng là diễn giải đó
cũng sẽ bị HĐTT mới bác bỏ.
Thử thách thứ ba có hai phần: bác bỏ yêu sách
“quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục địa”, và chứng minh “không có
EEZ có thể thuộc Trường Sa phủ trùm lên các khu vực trong vụ kiện.”
HĐTT 2016 đã bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử đối với EEZ và thềm lục
địa” một cách vững chắc, và khả năng là HĐTT mới sẽ công nhận lập luận
đó.
Điểm “không đảo nào trong quần đảo Trường Sa có EEZ” là điểm có thể
bị tranh cãi nhiều nhất, và khó có thể chắc chắn 100% rằng HĐTT mới cũng
sẽ công nhận điểm đó.
May mắn cho Việt Nam, giả sử như HĐTT mới không công nhận điểm đó đi
nữa, ba đảo lớn nhất, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc đều nằm xa các khu vực
trong vụ kiện.
Giả sử các đảo này được cho là có EEZ đi nữa, EEZ tối đa của chúng
chỉ trùm phủ lên một diện tích nhỏ của các khu vực trong vụ kiện. Nếu
các luật gia ủng hộ Trung Quốc đưa ra lập luận kiểu quần đảo Trường Sa
và vùng nước lân cận là một đơn vị chủ quyền thì cũng vô ích, vì nếu đã
là “vùng nước lân cận” thì không thể lan ra đến các khu vực trong vụ
kiện. Do đó, khả năng Việt Nam thắng kiện còn lớn hơn khả năng
Philippines thắng khi họ đưa Trung Quốc ra tòa.
Rụt rè và lỡ cơ hội
10. Nếu Trung Quốc rút ra khỏi UNCLOS thì sao?
Đây là một câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Nếu Trung Quốc rút ra
khỏi UNCLOS trước khi Việt Nam nộp đơn kiện, HĐTT sẽ không còn thẩm
quyền để xử, Việt Nam sẽ không còn cơ chế để đưa Trung Quốc ra Tòa.
Năm 2006 Trung Quốc đã vận dụng Điều 298 cho phép họ tuyên bố rút ra
khỏi một phần của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS, phần
liên quan đến phân định ranh giới biển. Với tuyên bố đó, Trung Quốc đã
đi trước một bước và làm cho Việt Nam mất đi cửa ngõ rộng nhất để kiện
những bước kế tới của họ: đuổi BP năm 2007, đuổi Exxon Mobil năm 2008,
phản đối đệ trình của Việt Nam về thềm lục địa năm 2009, và hàng loạt
những hành động lấn lướt khác.
Nếu Việt Nam để cho Trung Quốc đi bước trước lần nữa, Việt Nam sẽ mất
đi cửa ngõ duy nhất còn lại để kiện họ. Có thể Trung Quốc sẽ đi bước
này trước khi họ bắt đầu một giai đoạn mới để tước đoạt từ Việt Nam.
11. Vậy tại sao Việt Nam không kiện?
Đây cũng là câu hỏi quan trọng cho Việt Nam. Có thể là Việt Nam quá
rụt rè, không làm điều tối ưu, không tận dụng các phương tiện hòa bình
để tự vệ, không có một chiến lược tổng thể và lâu dài, có thể sẽ lỡ cơ
hội.
Có điều đáng lưu ý là khi Philippines còn bị lấn lướt ít hơn Việt Nam
thì họ đã khởi kiện Trung Quốc rồi (năm 2013), và khi đó họ không thể
biết nhiều về thắng-thua như ta biết hiện nay.
Điều thứ nhì là khi họ kiện thì Bắc Kinh đã nổi giận nhưng không trả đũa.
Điều thứ ba là mặc dù Tổng thống Duterte có chính sách thân-sợ-thua
Trung Quốc, gác phán quyết sang một bên, họ có sự lựa chọn gác hay không
– Việt Nam không có sự lựa chọn đó.
Điều thứ tư đáng lưu ý là khi tàu Trung Quốc đâm chìm một tàu cá
Philippines thì người dân Philippines phản ứng mạnh mẽ, và Trung Quốc
chỉ lấp liếm đó là tai nạn, tàu của họ định cứu các ngư dân Philippines
bị nạn, nhưng do bị tám tàu cá Philippines bao vây nên phải bỏ đi – khác
hẳn khi tàu Trung Quốc đâm chìm rất nhiều tàu cá Việt Nam và không mảy
may đếm xỉa đến các phản ứng ngoại giao của chính phủ Việt Nam.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org