Thứ hai, 18/05/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Tỷ lệ dòng họ ở Việt Nam. E-mail
20/02/2023
Tỷ lệ dòng họ ở Việt Nam.
 
Xin chân thành cảm ơn một bạn tốt đã gửi cho dữ liệu.
Có bạn cho tôi dữ liệu sau về số lượng dòng họ ở Việt Nam. Tỷ lệ này là đáng tin cậy, và có thể dùng trong các nghiên cứu khoa học. Nếu có được danh sách theo từng huyện cho 50 dòng họ nhiều nhất là chúng ta có thể suy ra được rất nhiều điều có liên quan tới lịch sử.
Căn cứ vào dữ liệu dưới đây chúng ta cũng có thể thấy ngay Triệu Đà không để lại dấu vết gì trong tiến trình lịch sử của Đại Việt.
Nhà Lý bắt nguồn từ Lý Bí, tức Lý Nam Đế vào năm 541. Vào năm 1010 Lý Công Uẩn rời đô về vùng gò Bưởi, nơi có Chùa Đồng Cổ. Vệt di tích liên quan tới nhà Lý rất lớn, bao gồm toàn bộ vùng đền chùa khu vực từ sông Đáy qua Cổ Nhuế, Từ Liêm và kéo sang tới Bắc Ninh về phía bắc sông Đuống gần với Sóc Sơn. Quần thể lăng mộ nhà Lý ở Đền Đô cách Sóc Sơn khoảng 30km về phía biển. Như thế số người mang họ Lý phải rất nhiều, chiếm đa số trong thời đại nhà Lý.
Thời Ngô Quyền và Đinh Bộ Lĩnh dân số khoảng 3600000. Năm 1054, Lý Thái Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt, tiến hành đại xá thiên hạ, đồng thời thống kê dân số toàn quốc được hơn 3790000 nhân khẩu. Vậy là 100 năm, từ năm 939 tới năm 1054 dân số tăng thêm 200 nghìn, từ 3.6 triệu lên tới 3.8 triệu. Từ đây suy ra tỷ lệ tăng dân số khoảng 0.1% một năm (1‰ một năm). Với tỷ lệ tăng dân số này vào năm 1400 dân số sẽ là 5.3 triệu. Nhà Minh dẫn số liệu của nhà Hồ cho thấy họ đã chiếm được 48 phủ, châu, 168 huyện, 782250 hộ, 112 con voi, 420 con ngựa, 35750 con trâu bò, 8865 chiếc thuyền. Theo Minh sử, năm 1408 nhà Minh kiểm soát 3120000 người và 2087500 người Man, tức khoảng 5.2 triệu dân, trên đất Đại Ngu. Con số 5.2 triệu dân mà Minh sử ghi chép phù hợp với số liệu tăng dân số tự nhiên là 5.3 triệu cho thấy đã không có một cuộc thảm sát ghê gớm nào đã xảy ra vào thời kỳ Lý-Trần.
Cho tới tận khi Pháp sang phương thức sản xuất ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn không thay đổi so với thời kỳ từ đầu Công Nguyên. Mô hình sống của một gia đình người nông dân Việt Nam là bao gồm ruộng cấy lúa và khu vườn. Vườn thì gồm có nhà, sân phơi, bếp, ao, chuồng trâu, chuồng lợn, cây ăn quả lâu năm, đất trồng màu như đậu ngô khoai sắn, cây... Mật độ dân cư là khoảng 1 hộ trên 1 heta, tức khoảng 6 nhân khẩu gồm 3 thế hệ trên 1 heta.
Vào thời Nhà Trần bờ biển ở vào khoảng Nam Định, diện tích đồng bằng Bắc Bộ vào khoảng 670 nghìn heta. Như thế dân số thời Nhà Trần vào khoảng trên dưới 4 triệu. Theo cổ sử thì dân số thì thời nhà Trần có 3790000 người. Con số này là đáng tin cậy.
Tốc độ tăng dân số ở Việt Nam là 1‰, ổn định cho tới tận khi Pháp sang. Với tỷ lệ tăng dân số này, đến năm 1870, Việt Nam có khoảng 10 triệu là phù hợp với thống kê dân số Việt Nam mà người Pháp thực hiện. Thời kỳ 1921 - 1943 tăng 319 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1.71%/năm. Thực dân Pháp sang đã mang theo các tiến bộ khoa học và hệ thống chăm sóc y tế nên mức tăng dân số vọt lên tới gần gấp hai mươi lần.
Kể từ sau năm 1226 lịch sử không còn ghi nhận dấu vết chính trường của họ Lý, vì thế tỷ lệ số người mang họ Lý trong tổng dân số Việt là ổn định cho tới ngày nay, với tỷ lệ 0.5%.
Xét theo quy mô thời gian trị vì thì các triều đại sau là có ảnh hưởng lớn đến lịch sử.
- Nhà Lý 216 năm kể từ năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê. Triều đại này trải qua 9 vị hoàng đế và chấm dứt khi Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225
- Nhà Trần trị vì 175 năm với 13 đời hoàng đế kể từ Trần Cảnh vào năm 1225 cho tới năm 1400, khi Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế.
- Nhà Lê trị vì 100 năm từ năm 1428 đến năm 1527. Triều đại này bị gián đoạn do Mạc Đăng Dung cướp ngôi và tự lập mình làm Hoàng đế trong 6 năm, với tên gọi nhà Lê Trung Hưng.
- Nhà Nguyễn trị vì 143 năm từ năm 1802 đến năm 1945 với 13 đời vua Nguyễn.
Như vậy quy mô lịch sử của các dòng họ Lý, Trần, Lê là như nhau chúng ta có thể ngoại suy từ tỷ lệ số người mang họ Lê là 8%, họ Trần là 9%, ra tỷ lệ phù hợp của những người mang hộ Lý là vào khoảng 10%. Tỷ lệ 0.5% so với 10% là quá ít. Thời Lý - Trần dân số Đại Việt vào khoảng gần 4 triệu, ứng với tỷ lệ 0.5% là khoảng 20 nghìn.
Con số 20 nghìn người mang họ Lý vào thời nhà Lý là quá ít so với tỷ lệ di tích đền chùa. Trước khi Pháp sang, các biện pháp y tế bảo vệ sức khỏa chưa có. Tỷ lệ tăng dân số ổn định và vào khoảng 1‰. Như thế vào thời Lý-Trần không hề có biến động dân số lớn mà chỉ có sự kiện chuyển họ. Như vậy sự kiện vào tháng 4 năm nhâm thìn 1232, Trần Thủ Độ buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn là sự kiện có thật.
Việc các di tích đền miếu thờ tôn thất nhà Lý cũng như các tục lệ đưa rước vẫn còn nguyên vẹn cho đến tận ngày nay cho thấy sự kiện viết về Trần Thủ Độ có thể là không đúng. Các cuộc chiến với quân Nguyên-Mông ngay sau đó, suốt từ năm 1258 tới 1285 cho thấy vai trò đoàn kết các dân tộc là yếu tố quyết định. Sự kiện tiêu diệt họ Lý một cách dã man chắc chắn không thể có. Việc đổi họ chỉ thực hiện trên sổ sách. Trần Thánh Tông chính là cháu ngoại của Lý Huệ Tông. Nhà Trần, kể từ Trần Thánh Tông có một nửa dòng máu của họ Lý. Việc "Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ở các vùng núi xa xôi miền biên viễn" là minh chứng cho sự cầu giao hữu hảo, vậy càng không thể có sự kiện thanh trừng.
Vào cuối nhà Lý xã hội rối ren, loạn xứ quân xảy ra khắp mọi nơi. Việc Trần Thủ Độ bố trí cho Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng cho thấy đó là kế hoạch hoàn hảo. Kế hoạch hoàn hảo này chứng tỏ Trần Thủ Độ là một nhà kỹ trị. Vì thế sự kiện nhảy vào mồm Trần Thủ Độ của các sử gia kiểu như "Ép Lý Huệ Tông tự tử" là -- nếu có cũng chả ai biết được.
Theo thống kê có trong sách của Lê Trung Hoa "Họ và tên người Việt Nam" Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 2005, thì họ Lý ở Hà Nội là gần như không có. Như thế số người mang họ Lý ở phía Nam là những người không chấp nhận đổi họ.
Họ Triệu có nhiều ở một số vùng biên giới phía bắc của Việt Nam, tuy nhiên tỷ lệ cũng chưa vượt quá 0.31%.
Từ thống kê tỷ số họ trong tổng số người dân, ta thấy Hùng Vương cũng như An Dương Vương chỉ là bóng ma lịch sử. Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng số dân của dân tộc Tày - Thái - Nùng cũng chưa tới 3 triệu. Tức là hậu duệ của Cha con Thục Phán chạy loạn nhiều nhất cũng chỉ khoảng 3%. Điều này phù hợp với số lượng các di chỉ khảo cổ có Nha Chương trong tổng số các di chỉ khảo cổ.
Bố cáo. Đây chỉ là dữ liệu khách quan, không suy diễn ra phân biệt dòng họ hay sắc tộc.
Nguồn Facbook Nguyen Leanh

Không có mô tả ảnh.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn