|
Họ của người Việt trong dòng lịch
sử
Bắt nguồn từ chữ Hán “bách
tính” được nói trại là “bá tánh”, nhiều người nghĩ rằng ở nước ta xưa nay chắc
phải có đủ 100 họ! Thực ra từ này chỉ toàn bộ số người trong nước, chứ không phải
theo đúng nghĩa đen là 100 như sách Bách gia tính của người Trung Quốc lưu
hành. Về sau, ở Trung Quốc, vào các thời Tống, Minh và Thanh lại xuất hiện thêm
sách Thiên gia tính (ngàn họ) nữa.
Về họ của người Việt (Kinh),
có tài liệu thống kê là ban đầu, người Kinh có 86 họ gồm : An, Bạch, Bồ, Bùi,
Ca, Cao, Cố, Cù, Châu, Chu, Diệp, Doãn, Dương, Ðái, Ðàm, Ðào, Ðặng, Ðậu, Ðinh,
Ðoàn, Ðổ, Ðồng, Giang, Giáp, Hà, Hạ, Hàn, Hoàng (Huỳnh), Hồ, Hứa, Kiều, Kim,
Kha, Khổng, Khuất, Khúc. Khương, La, Lã (Lữ), Lại, Lâm, Lê, Lều, Liễu, Lục,
Lương, Lưu, Lý, Mã, Mạc, Mai, Mạnh, Nghiêm, Ngô, Ngụy, Nguyễn, , Nhử, Ninh,
Ong, Phạm, Phan, Phỉ, Phó,Phùng, Quách, Quan, Tạ, Tăng, Tô, Tôn, Tống, Từ, Tưởng,
Thái, Thành, Thẩm, Thân, Trần, Triệu, Trinh, Trương, Ung, Văn, Vũ, Vương Vưu.
Về sau, có thêm các họ u, Bá,
Bì, Bông, Cam, Diệu, Dư, Ðịch, Ðiềm, Ðiều, Ðường, Hán, Hầu, Vu, vì thế tính
chung có trên một trăm họ. Tuy nhiên, cuộc điều tra đến nay vẫn chưa kết thúc
vì sự chính xác, chẳng hạn hai họ Tôn Thất và Tôn Nữ không phải là họ, mà thực
tế đó chỉ là hai danh xưng của những người có liên hệ với dòng tộc của Vương
triều nhà Nguyễn mà thôi. Ngoài ra trong “bách tính”, còn có nhiều họ của người
Minh Hương hay Việt gốc Hoa lẫn lộn và cả họ của đồng bào dân tộc ít người nữa.
Tuy nhiên, nhìn chung, họ của người Việt (Kinh) khoảng trên dưới 100, nên có thể
từ đó người xưa mới gọi là bá tánh là 100 họ.
Về họ của đồng bào dân tộc ít
người cũng khá rắc rối, nhất là đối với các dân tộc ở Cao nguyên Trung Phần.
Theo sử liệu thì vua Minh Mạng (1820-1840) đã ban cho người Khmer ở đồng bằng
sông Cửu Long bốn họ là: Sơn, Thạch, Lâm, Danh. Riêng người Chăm ở Thuận Trấn
thì khi chúa Nguyễn Ánh từ Gia Ðịnh ra chiếm lại miền đất này của Tây Sơn do
Phiên vương Nguyễn Văn Tá giao nạp, cũng đã ban họ Nguyễn cho các vị thân vương
Chiêm Thành.
Theo sách Minh Mệnh chính yếu,
năm 1827 vua Minh Mạng ban dụ: “Thổ ty ở vùng Cam Lộ vẫn theo tập quán chưa có
họ minh bạch như người Kinh. Do trên phải chỉnh đốn lại phong hóa để không phân
biệt nòi giống và ai cũng cần phải có họ, chứ không như trước chỉ mang một cái
tên mà thôi.”
Ngoài ra, vào năm 1834, nhà
vua còn đặc tứ ban họ cho những quan chức Chân Lạp (lúc đó đã trở thành Trấn
Tây Thành của Ðại Việt), cũng như ban họ cho hai vua Thủy Xá và Hỏa Xá đang cai
quản Cao Nguyên Trung Phần. Tình trạng nhập nhằng tên họ trong các cộng đồng
người thiểu số Việt Nam, kể cả người Chăm và Khmer chứng tỏ do tập quán đặt tên
không đặt họ và sự tách biệt giữa các dòng họ bộ tộc, hoàn toàn khác hẳn với
phong tục tập quán của người Việt (Kinh) mà họ đã cùng nhau sinh sống sau này.
Đối với người Việt (Kinh), sử
cũ ghi lại đã có những cuộc bắt buộc phải đổi họ của nhiều họ tộc. Ðầu tiên là
họ Lý đổi thành họ Nguyễn. Bắt đầu từ tháng 12 năm Ất Dậu (1226), Trần Thủ Ðộ
cướp ngôi nhà Lý qua việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lên
làm vua, tức vua Trần Thái Tông (1226-1258). Ðể tránh hậu hoạ, Trần Thủ Ðộ đã
ép và giết Lý Huệ Tông lúc đó đã xuất gia là Huệ Quang thiền sư, đồng thời đem
hết công chúa của nhà Lý gả bán cho các tù trưởng Mường Mán miền biên giới Việt
-Hoa- Lào. Rồi vin vào lý do tổ nhà Trần tên là Lý, nên bắt buộc người trong nước
có họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn. Tàn nhẫn hơn, vào năm Nhâm Thìn (1232), Trần
Thủ Ðộ đã nhân dịp con cháu tôn thất nhà Lý tụ tập về tổ đường tại thôn Thái Ðường,
Hoa Lâm, Bắc Ninh cúng kiếng để âm mưu ám hại.
Từ đó họ Lý mai danh ẩn tích,
thay tên đổi họ, trong số đó có hoàng tử Lý Long Tường, con thứ 2 của vua Lý
Anh Tôn (1138-1175), năm 1226 cùng thủ hạ dùng thuyền trốn thoát được sang Triều
Tiên.
Gần 200 năm sau, năm Canh Thìn
(1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nên nhà Hồ (1400), vì có mối quan hệ
với nhà Trần từ trước nên Hồ Quý Ly vẫn giữ nguyên dòng họ đó. Khi Lê Lợi lên
ngôi, tức Lê Thái Tổ (1428-1433), lập nên nhà Hậu Lê thì vào năm 1435, dưới thời
vua Lê Thái Tôn (1434-1442), nhân dịp truy tôn mẹ ruột là Phạm Thị Ngọc Trần
lên làm Cung Trần Quốc thái mẫu, theo chân Trần Thủ Ðộ ngày trước, vua Lê Thái
Tôn đã dùng sách lược ban Quốc tính để diệt trừ hoàng tộc nhà Trần: tất cả những
người họ Trần phải đổi thành họ Trịnh để tránh phạm húy. Lệnh này được thi hành
quyết liệt dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460-1497). Từ đó về sau, người họ Trần
trở nên ít hẳn, cho tới thời vua Lê – Chúa Trịnh và về sau, mới có một vài quan
lại họ Trần được nhắc tới.
Một sự kiện lịch sử khác cũng
đã làm thay đổi họ của một dòng tộc. Đó là con cháu họ Mạc (miền Bắc) đã buộc đổi
thành nhiều họ khác. Nguyên do là vì Mạc Đăng Dung (1527-1530) cướp ngôi nhà Hậu
Lê, lập ra nhà Mạc, truyền từ Mạc Ðăng Dung tới Mạc Hậu Hợp được năm đời vua,
trị vì 65 năm (1527-1592). Năm 1593, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long, trung hưng
nhà Hậu Lê và tập trung lực lượng để tiêu diệt nhà Mạc, khiến cho con cháu họ Mạc
đã phải tự thay tên đổi họ để được sinh tồn….
ST
|