Chủ nhật, 02/08/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Vùng Bưởi và giấy Bưởi E-mail
22/02/2008
 Vùng Bưởi và giấy Bưởi
 

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa nghìn sương.
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây hồ.

Cổng làng cổ Yên Thái
Nhịp chày vang lên trong ca dao trữ tình từ xa xưa ấy chính là nhịp chày giã dó làm giấy của nhân dân vùng Bưởi.

Theo truyền thuyết của nhân dân bản địa, ngày xưa đây là vùng bãi lầy có con sông Thiên Phù chảy qua. Thiên Phù Giang là chi lưu của Nhị Hà dẫu không còn nữa, nhưng nó còn lưu vết tích trong những tên gọi làng mạc: Võng Thị có nghĩa là chợ bán lưới (của ngư dân bên dòng Thiên Phù), làng Tân (hay còn gọi là Tiên Thượng), gợi lên hình ảnh bến nước thuyền bè tấp nập.

Một ông vua thời Lý bị đau mắt nặng, bèn sai lính ra Kẻ Chợ mời thầy bói vào cung xem bói. Thầy bói xem quẻ nói rằng: nếu nhà vua tìm được người nào tự mang thân tự vẫn xuống sông Thiên Phù, lập tức sông sẽ cạn dòng, bãi bồi nổi lên, vua sẽ khỏi đau mắt. Tin đó truyền ra khắp kinh thành. Người bán nước vối họ Võ nghèo khổ ở quê Bạch Hạc, ở đợ tại làng Xuân Tảo Cáo, tự nguyện gieo mình xuống nước cứu vua lấy số tiền vua ban thưởng để lại cho người vợ sống đỡ khổ, nhưng sau khi chồng chết, thì người vợ cũng nhảy theo chồng tự vẫn. Ngay sau đó, Thiên Phù Giang bị lấp; vua qua nạn, bèn sai lập đền thờ ghi lại cái ơn sâu đối với ông lão bán nước vối Võ Phục và bà lão họ Đỗ được vua mệnh danh là Đỗ Quý Thị phụ nhân. Đó là ngôi đền thờ thành hoàng khá đồ sộ của làng Yên Thái.

Bãi nổi này nguyên lúc đầu làm bãi pháp trường của triều đình nhà Lý. Bao nhiêu người có tội bị chém đầu và vùi thây tại đấy. Cho nên tên gọi đầu tiên của bãi nổi là Đống Ma phường, sau đổi thành tên chữ: Tích Ma phường. Câu chuyện đồn đại mê tín đã in hằn vào tâm khảm con người xưa những hình ảnh rùng rợn: phiên chợ Bưởi vào dịp cuối năm có cả bóng ma từ âm phủ hiện về trà trộn với người trần để sắm hàng Tết. Vì thế, phiên chợ cuối năm được gọi là phiên chợ Ma phường.

Trên cái bãi ma ấy, vua sai bốn người lính đến trông coi lăng ông bà bán nước vối họ Võ và thắp hương thờ cúng. Bốn người lính này tương truyền là thuộc họ Đặng, Hoàng, Nguyễn, Cao. Hiện còn là nhà thờ đại tôn của ba họ. Riêng người họ Cao thì đã phiêu bạt đi từ lâu rồi.

Từ gốc gác bốn người lính, con cháu sinh sôi ngày càng đông, lập thành phường. Đến lúc đã an cư lạc nghiệp, cái tên Tích Ma phường ghê rợn xưa bị xóa, đổi thành phường Yên Thái (hay còn gọi là An Thái). Đến thời Minh Mạng, mới chính thức gọi là xã Yên Thái. Nhà vua phong cho dân làng bốn chữ Mỹ tục khả phong treo ở cửa chùa Ngọc, ngụ ý khen dân bản địa đã tự mình lập ấp dựng thôn, làm ăn phát đạt, phong tục tốt đẹp. Và, ngay từ thuở xa xưa ấy, nhịp chày Yên Thái đa vang động trên mặt nước Đâm Đàn. Dân ở vùng này có hai nghề thủ công nổi tiếng: dệt lĩnh, làm giấy.

Qua bao nhiêu đời, nghề thủ công làm giấy ngày càng phát triển, bàn dân thiên hạ quen gọi là "giấy Bưởi". Thực ra thì không phải cả tổng Bưởi làm giấy (tổng Bưởi gồm nhiều thôn: Thụy Khuê, Bải Ân, Võng Thị, Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái...) mà chỉ riêng có ba thôn làm: Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã. Ba thôn này về sau thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận nhưng người ta vẫn quen gọi gộp chung lại là Kẻ Bưởi.

Nhờ có nghề làm giấy phát đạt, mà Kẻ Bưởi từ nguyên sơ là vùng lầy trũng của sông Nhị Hà, trở thành bãi tha ma, và sau này là cả một vùng dân cư sầm uất. "Đất lành chim đậu", các cụ già ở đây nói thế. Tổ chim từ nơi này sinh nở đầy đàn. Cả những đàn chim từ khắp nơi bay về. Dân tứ xứ đến đây làm thuê, rồi cũng dựng cơ nghiệp luôn trên đất Bưởi. Lúc đầu chỉ lác đác dăm ba cụm gia đình ở thưa thớt, dần dần trở nên một nơi trù phú, rộn rã tiếng chày, tiếng liềm seo, tiếng khung dệt...

Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi: "Vùng này, đất thì vàng, vào loại đất trồng sắc vàng; ruộng thì vào hạng thượng, trung. Phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, binh khí, đồ đài, nệm, võng, ghế, vóc trìu, dù lọng, tán. Phường Yên Thái làm giấy..."

Khách thập phương ngày xưa bước vào kinh thành, không thể không ghé chân thưởng ngoạn mảnh đất trù phú soi bóng mặt gương Tây Hồ. Chùa An Thái dựng trên gò Bát Tháp là một nơi am thanh cảnh vắng. Đền Nhà Bà ẩn dưới gốc cây muỗm xum xuê lá cành. Miếu cầm canh xinh xắn, đêm đêm vẳng lên tiếng trống phu tuần. Cổng làng Thọ thâu đêm ánh lên ngọn đèn xanh. Cuối làng Yên Thái mọc lên sừng sững cây gạo cổ thụ sống trên năm trăm năm, vào dịp tháng ba hoa nở, chim chóc ríu rít bay về lót tổ. Men theo làng là con sông Tô Lịch, tấp nập thuyền bè ngược xuôi. Bên sông quanh năm rộn rịp các cô gái ra đãi bìa đó. Từ sáng tinh mơ, người ta đã nghe vọng lên khúc hát trong trẻo.

Người ta bán vạn buôn ngàn,
Em đây làm giấy cơ hàng vẫn tươi
Dám xin ai đó chớ cười,
Vì em làm giấy cho người viết thơ.

Các cô con gái tinh nghịch hát đùa các vị sư:

Người ta đúc tượng làm chùa,
Còn em làm giấy bốn mùa chẳng ngơi.
Dám xin sư bác chớ cười,
Vì em làm giấy cho người viết kinh.

Ngay đầu làng Yên Thái có cái giếng thơi sâu hơn mười thước. Quanh năm nước trong vắt và không bao giờ cạn.

..

 Chế biến giấy

. Chợ Bưởi nằm trên bờ sông Tô Lịch là một chợ lớn của Vĩnh Thuận ngày xưa. Mỗi tháng họp sáu phiên vào ngày 4 và ngày 9. Chợ có rạp hát và bán đủ các loại đặc sản trong vùng: lĩnh Bái Ân, cốm Vòng-Dịch-Hậu, mạch nha An Phú... Đặc biệt trong chợ có một dãy nhà gồm mười lăm gian chuyên bán "giấy Bưởi". Ngoài những phiên họp thông thường, hàng tháng còn có sáu phiên chợ vào ngày 2 và ngày 7 chỉ bán toàn giấy: giấy moi, giấy bàn, giấy phết quạt, giấy ngòi pháo, giấy sắc... Các hiệu buôn về đây mua giấy chuyển đi khắp nơi. Ba mươi sáu phố phường Hà Nội đều bán giấy Bưởi, nhưng Hàng Giấy, Hàng Phèn bán nhiều nhất. Giấy Bưởi còn theo những chuyến đò, chuyến tàu vào bán tận Thanh, Nghệ, Quảng Bình, Quảng Ngãi... và cả cố đô Huế nữa.

Nghề làm giấy ở Bưởi ngày càng thịnh đạt và trở nên một trung tâm sản xuất giấy của nước ta thời xưa. Ngành thủ công này thu hút lao động rất lớn cả làng không một ai làm nghề gì khác.

Nghề làm giấy cổ truyền ở đây chỉ tập trung vào các làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã làm giấy. Các làng khác chủ yếu là sản xuất các công cụ làm giấy: Xuân Đỉnh là liềm seo giấy, thép cán giấy; Cổ Nhuế đan phên, phanh, chõng và sọt. Riêng loại rá to đãi bột thì phải mua tận làng Nam Quán, Phú Xuyên (Hà Đông cũ).

Mua nguyên liệu và vận chuyển nguyên liệu là khâu khó khăn nhất trong quá trình sản xuất giấy. Lúc đầu, người thợ làm giấy phải tự mình lên các tỉnh miền núi mua dó về. Về sau, dân Nghĩa Lộ, Thái Nguyên, Yên Bái... đem dó về xuôi sông Nhị Hà đến đậu ở bến Chèm san sát. Rồi những chuyến xe bò nối đuôi nhau dài đằng đặc từ bến Chèm về chợ Bưởi. Người bán người mua trao nhau miếng trầu hát giao duyên:

Thương người dãi nắng dầm mưa,
Cho em cây dó em đưa miếng trầu.
Trầu này đệm với vôi Tầu,
Ăn dăm ba miếng kẻo rầu lòng em.

Kèm theo những cốn bè đó, có gỗ mòn. Người thợ giấy lại phải thuê thợ mộc bào vụn gỗ ra rồi ngâm nước, lấy nhựa gỗ pha vào bột dó để giấy khỏi dính vào nhau.

Công việc thật khá phức tạp và khá vất vả. Sau khi bóc vỏ dó phân thành hai loại tốt, xấu, phải giã dó thành bột. Người đàn ông phải đánh trần ra, cầm cái chầy gỗ nặng đến vài ba chục cân nện vào chiếc cối đá to. Chừng gã gáy canh tư, tiếng chày giã dó ran lên khắp làng cho đến gần trưa. Mồ hôi nhễ nhại.

Từ tháng bảy đến cuối năm, việc càng bề bộn hơn. Làng xóm náo nhiệt hàng trăm thứ âm thanh.

Hàng bán ra chợ nhiều vô vàn. Ngoài ra các loại giấy thông thường như giấy moi, giấy bản, còn loại giấy lĩnh nữa. Người ta mua giấy lĩnh để chép gia phả, ngọc phả. Các nhà in cũng dùng giấy lĩnh để in những cuốn sách quý. Giấy lĩnh rất bền, giữ nét mực được lâu. Có nhiều cuốn gia phả, ngọc phả để hàng mấy trăm năm vẫn giữ nguyên màu sắc giấy vàng nhạt và nét mực nho đen đẫm.

Giấy sắc là loại tốt nhất, nhà vua dùng để ban sắc thần. Làng Nghè (Từ Liêm) được đặc ân nhà vua giao cho làm. Mỗi lần có lệnh vua ban xuống, thợ giấy vùng Bưởi sản xuất giấy mộc, rồi làng Nghè nhận về quét bột hòe cho giấy dày và vàng đẫm. Những người thợ khéo tay thuộc gia tộc họ Lãi "nghề giấy" (bây giờ là cán giấy) cho trơn nhẵn (vì thế làng này được đặt tên là làng Nghè), rồi dùng kim nhũ trang trí bằng những hình rồng bay phượng múa. Lúc đầu giấy sắc chỉ dùng riêng cho triều đình. Dần dà về sau, các làng nhiều nơi họ đặt thợ giấy vùng Bưởi làm để chép thần phả ngọc phả.

Gần một nghìn năm, giấy sản xuất nhiều như vậy, đủ loại như vậy; nhưng bản thân người thợ lại không được học hành. Họ sống cơ cực trong điều kiện sản xuất thiếu thốn phương tiện, hoặc phương tiện quá thô sơ. Người thợ giấy đã không ngừng đấu tranh cho cuộc sống mát mày mát mặt hơn. Đến khi có Đảng lãnh đạo, ngọn lửa cách mạng ở đây được nhen nhóm. Đồng chí Hoàng Văn Thụ về Yên Thái gây cơ sở Đảng. Hình ảnh người lãnh tụ cách mạng trẻ tuổi ấy đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, in sâu mãi trong trí nhớ những bà mẹ đã nấu cơm cho anh từ thời bóng tối. Phong trào truyền bá quốc ngữ dấy lên mạnh mẽ. Đình làng trở thành lớp học.

Năm 1946, Bác về thăm Yên Thái, Bác hơi gầy, bận bộ quần áo ka-ki bạc màu, trông rất giản dị. Cụ Nỉu là một thợ giấy nghèo xơ xác, vừa trông thấy Bác liền ứa nước mắt chạy tới. Bác khoát tay cụ Nỉu đi trên đường làng rất thân mật như hai người bạn già lâu ngày được gặp lại. Các cháu nhỏ chạy theo dẫm lên giấy phơi bên vệ đường, Bác liền bảo các cháu: phải giữ gìn giấy, phải tiết kiệm giấy. Nhìn bà con đứng vây quanh, Bác dặn dò mấy câu thân tình về việc sản xuất giấy.

Bác chỉ ở lại 30 phút thôi, mà hình ảnh Bác mãi mãi không phai mờ trong trí nhớ của các cụ già, em bé.

Vinh dự thay những người thợ giấy vùng Bưởi!

Những trang giấy cổ truyền thơm nắng nhiệt đới Việt Nam đã chép áng Kiều tuyệt tác, đã chép cho pho sử hùng hồn của dân tộc.

Những trang giấy cổ truyền đã chép cho Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương, Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi... và những ngày qua vô cùng vinh dự, những trang giấy cổ truyền này lại in Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu.

Võ Văn Trực- báo Bình Thuận

 
 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn