Chủ nhật, 19/04/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Nơi hiện nay thờ cụ Đỗ Quí Thị E-mail
12/05/2008

Bài viết nhân ngày sinh (đản) của cụ Đỗ Quí Thị 

Theo phả cũ, hôm nay 8/4 âm lịch là ngày đản của cụ Đỗ Quí Thị. Sinh thời cụ đã tu tập ở động Tiên Hòa Bình rồi trở về tu ở chùa Đại Bi. Sau này cụ được thờ ở ngôi chùa này và ở Từ đường họ Nguyễn Vân. Vậy những địa danh ghi trong phả cũ nay ở đâu ?

 
cay_bo_de
 Chùa Vân La với cây bồ đề cổ thụ
me_con 
 Tượng thờ hai mẹ con cụ Đỗ Quĩ Thị ở chùa Vân La  

Tiền nhân họ Đỗ xa xưa nhất được biết đến nay còn ghi trong thư tịch cũ là một cụ bà  và 08 người em trai là Bát Bộ Kim Cương. Cụ Bà, Đỗ (Quý thị), húy là Ngoan, có tên tự là Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm (cụ Long Đỗ về sau còn được gọi là Thần Bạch Mã, một trong tứ trấn Thăng Long thành, thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội). Sách họ Đỗ Việt Nam tập I, in năm 2001, nhà xuất bản Văn hóa thông tin có ghi chú rõ (trang 259): Cụ Đỗ Quí Thị được ghi trong một thư tịch cổ. Còn cụ Long Đỗ vẫn là một nhân vật truyền thuyết, chúng tôi chưa coi là người họ Đỗ xa xưa nhất được biết, Chúng tôi còn đang tiếp tục sưu tầm làm rõ thêm. 

Cụ Đỗ Quí Thị ngày đản mồng tám tháng Tư âm lịch, hoá ngày 15 tháng Bảy âm lịch ở Nội Tích, Đại Lôi (Ba La). Mộ táng ở Ba Lôi trong chùa Bồ tát Đa tát, Ba La. Cụ tu theo đạo Sa Bà, đạo của Đế Thiên Phục Hy giáo chủ cách đây khoảng 5.000 năm. Là người có công cùng tám người em trai cụ được tôn hiệu là Bát Bộ Kim Cương đã nuôi dạy con trai là Lộc Tục nhiều năm tu ở động Tiên, Lạc Thủy Hòa Bình. Ở đây cụ được gọi là sơn trại chúa Mường, Tây Vương mẫu, dân gọi nôm na là Mẫu Đầm Đa.(*) Khi Lộc tục được cha (Đế Minh) truyền ngôi, xưng là Kinh Dương Vương đã đón Mẹ về tu ở chùa Đại Bi . Tên hiệu của Cụ là Tín Thiền Sư, Hương Vân Cái bồ tát. Sau này dân thờ cụ ở chùa Đại Bi Trước đây Chùa ở gần ngã ba Ba La, đã bị hủy hoại do chiến tranh, vì thế bà con dân làng Vân La phải chuyển tượng thờ ở chùa Đại Bi về chùa Vân La, cách khu gò Thiềm Thừ quãng 200 mét. Chùa Vân La tên chữ là Đăng Vân ở thôn Vân La, xã Văn Khê, thành phố Hà Đông. Đây là ngôi chùa cổ nằm dưới tán một cây bồ đề cổ thụ, gốc lớn bốn năm người ôm không xuể, kề bên có một giếng cổ hình tròn dân làng Vân La gọi là giếng mắt rồng. Trong chùa hiện còn tượng thờ Cụ và con trai là Kinh Dương Vương và vài tấm bia đá khắc chữ hán nôm.

Là tối cao ngoại tổ của dòng họ Nguyễn Vân ở Vân Nội nên Cụ được thờ cùng liệt vị tiên tổ họ Nguyễn Vân tại nhà thờ ở thôn Vân Nội. Họ Nguyễn Vân đã duy trì hương khói và giữ gìn miếu mộ của Cụ hàng ngàn năm qua. Hơn chục năm nay từ khi họ Đỗ Việt Nam tụ hội, các tộc họ khắp mọi miền đất nước thành lập BLL họ Đỗ Việt Nam cứ đến ngày Đản (sinh) hoặc ngày Hóa của Cụ, BLL họ Đỗ Việt Nam đều tổ chức đoàn vào dâng hương ở nhà thờ họ Nguyễn, sau đó đến dâng hương ở mộ và miếu thờ Cụ ở Ba La và khu mộ của 08 người em trai Cụ (Bát bộ Kim cương) ở gò Thiềm thừ  thôn Vân La cách miếu thờ không xa.

Ở khu từ đường họ Nguyễn Vân thôn Vân Nội nhà thờ Tổ có tên Bách Việt Thiệu Tổ. Ở nhà nhờ Tổ, bài vị thờ Cụ là tối cao ngoại tổ. Cụ được phối thờ cùng các liệt vị tổ tiên họ Nguyễn. Nhà thờ này cũng là nơi thờ Phật: Hương Vân Cái Bồ Tát. Nơi thờ Phật đặt bài vị thờ Cụ theo phật hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Theo lệ nhiều đời, ngày đản, ngày hóa của Cụ hằng năm thì lễ vật  bên nhà thờ tổ tiên cúng cỗ mặn, con bên thờ Phật dâng hương hoa và cúng cỗ chay. Đến nay nhà thờ Nguyễn Vân còn lưu giữ được bài cúng tổ xa xưa như là một bài tụng niệm gọi là bài "Thỉnh tổ tổng khoa- Cúng gia tiên". Họ Nguyễn Vân Nội từ xưa đến nay cung thỉnh tổ đều đọc bài này, nguyên bản là chữ Phạn, Hán. Trong phần mở đầu ghi rõ câu Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. Câu tụng này cũng là câu mở đầu trước khi khai kinh kệ của bất cứ buổi khai kinh nào ở các chùa. Bài Thỉnh tổ Tổng khoa đã được ông Đỗ Chiểu - Minh Văn (Việt kiều cư trú ở Mỹ) phiên âm chú dịch từ chữ Phạn và chữ Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ.

 Với các tài liệu sử phả đã được giới thiệu trước đây, cùng những phát hiện gần đây chúng tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc một phần sự thật lịch sử nghìn xưa đã bị sương khói thời gian che phủ, về cụ Đỗ Quí Thị vợ cụ Đế Minh- Nguyễn Minh Khiết, được tôn đạo hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát. Hai cụ sinh ra Lộc Tục Kinh Dương Vương, là những tổ tiên xa xưa nhất của đất nước được biết đến nay còn ghi trong thư tịch cũ.

 Đỗ Quang

(*) Theo các cụ phụ lão ở thôn Yến Vĩ, Xã Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức, Hà Tây kể lại thì hằng năm chùa Hương mở lễ hội vào mồng 6 tháng giêng âm lịch. Từ Động Hương Tích có đường sang Động Tiên ở Lạc Thủy, Hòa Bình, đi bộ mát chừng non nửa ngày. Trước lễ hội bô lão làng Yến Vĩ sang lễ Mẫu ở Động tiên xin phép cho mở cửa rừng. Sau lễ ở động Tiên dân làng Yến Vĩ  cử hành trọng thể lễ mở cửa rừng (hay lễ mở cờ rừng) ở đền Trình, là ngôi đền sơn thần ở chùa Hương, để người trần gian xin phép thần rừng được vào rừng lế bái và làm ăn sinh sống.

 

THỈNH TỔ TỔNG KHOA

(Minh Văn phiên âm, chú dịch từ chữ Phạn và chữ Hán)

Lời ghi ngoài bìa:

ba cột từ phải sang trái:

Nguyễn Tộc Quang tính

Văn Nội thôn

Thắng Lãm trang

 

THỈNH TỔ TỔNG KHOA- CÚNG GIA TIÊN (1)

Hà Nội tỉnh - Thanh Oai huyện - Văn Lang trang

PHIÊN ÂM PHẦN: THỈNH TỔ TỔNG KHOA

Hương yêu liêu nhiễu, tản cái vinh la, tằng tằng hóa vãng cửu liên - hoa, xứ xứ thị Di Đà. Chúng vọng biến đa, Đài sơn chỉ lộ Bà.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.(2)

Phù dĩ, Hương hoa la liệt, đăng chúc giao quang, chúng đẳng kiên thành, chí tâm tán lễ .

Tâm địa tự Lưu Ly ==> Nhật quán vọng hóa nghi.

Tương tư đồng tử mẫu. Hoài mộ hữu thì nhi.

Kim nhan thuần bảo hóa. Ngọc chất diệu hoa phi.

Cửu liên tùy nguyện phó. Tam Thánh nhạ tây quy.

Cố hệ siêu sinh tử. Đại ai khoáng tế kỳ.

Nam Mô Độ Nhân Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

Phù dĩ, đường thượng trang nghiêm, kỷ tiền la bái, dục nghinh Thiền

Tổ giáng linh,tu trượng Tào Khê quán sái. Thị thủy dã, băng tuyết tàng châu, ba trừng tẩm nguyệt. Hoặc tại Viễn Công liên lậu hạ, khóa định lục thời. Hoặc cư Lạc Quốc bảo trì trung, hoa phô tứ sắc.

Tiêu giao Thánh cảnh Phàm tình, Nhàn sái Thiên- cung Tịnh Độ.

Kim tương quyên trích, hướng kỷ tiền. Lệnh thử Thiền - sàng đồng ly cấu.

Giao hữu Bí Mật Chân Ngôn cẩn đương trì tụng, (Chuẩn Đề chú).

Như Ý châu ngọc, lưu chú hoa nhị. Thủy tự Hoa, nhi Hoa tự Thủy.

Thủy, Hoa tiêu trần lụy.Thuần hồ tinh túy. Liên nhị đề sinh quý.

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cung văn dục nghinh Cửu Liên Thiền Tổ, tu bằng Ngũ Phận pháp hương.

Phù hương giả, căn tiềm Tịnh Vực, diệp phá trần lao.

Tài bồi phi nhất thế chi công. Thủ hộ thị Bách Thần chi lực.

Đãn cổ phân phương độc lộ kỳ. Thốn ty giai diệu nan thù giá.

Chỉ duyên Bồ Tát tích tàng. Khởi dự Long Thần đẩu xuất.

Đương đại chiêm y, phả thiên đông phụng. Giao hữu Nhiên Hương Chân Ngôn, cẩn đương trì tụng .

Chân ngôn ngũ phận, thế gian hi,==> Khinh tống từ- phong, mật tín trì.

Nhất điểm thúy tâm hàm tạo hóa, Cửu Liên Đài bạn, nguyên dao tri.

Nhất tâm niệm Phật, đan quế hàm hương.

Thừa lâm chung , chính niệm chiêu chương.

Văn không trung thiên nhạc khanh thương,

Dẫn linh hồn siêu vãng Tây Phương.

Tứ bối cộng bi thương, Ai nạp hưởng chưng thường.

Nam Mô Hương Cúng Dàng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cung văn nhân tòng khoáng kiếp. Quả cập kim sinh.

Giả bình nang vu mộng lý. Viên thế nhiễm vu từ môn.

Kỳ thừa tiên sắc, đốc phụng tư kinh. Phổ chu hàm thức, đồng phó Tây- giai.

Hốt nhĩ càn thành báo. Mãn liên- bảng đề danh.

Uế bang vô đầu túc. Tịnh quốc dĩ thê thần .

Tư đương tiết giới (mỗ) thiên, tuần lâm húy nhật, truy tố khâm hoài ư đạm bạc, tuế thời bồi thiết ư chiêm hoài. Bàn trình lục cúng, lễ thỉnh tam thân.

Giao hữu phụng thỉnh Chân Ngôn. Cẩn đương trì tụng.

Nam Mô bộ bộ đế, ly già ly đa ly, tát đa đa phạt đa đa.

Thượng lai phụng thỉnh chân ngôn, tuyên dương dĩ cánh, chúng đẳng kiền thành, thượng hương nghênh thỉnh.

Hương hoa thỉnh. Nhất tâm phụng thỉnh, ảo sinh ảo cảnh, đoan vị túc duyên.

Ám tưởng trần trung trần điểm quốc. Kỳ quan giác thượng giác mê nhân.

Bi điền dị ký, nguyện hải nan danh.

Vương thần sĩ thứ, nhàn lai chân thắng địa.

Thánh phàm thiện ác, tòng thử giả sinh duyên.

Tiệm tiệm thành nhân, hoàng hoàng yếm thế.

Thoát trần lụy vu thiền quynh. Thùy giới đao vu liên hậu.

Mỗi vị sinh hoằng tỳ ni, tử quy an dưỡng.

Khởi kỳ vọng chân đồng thể, nhân quả tương phù.

Thánh chúng Tây lai hoàn vũ trụ. Hoa đài vân sính trú hư không.

Nãi ư Canh Thân niên Thập nguyệt Thập Lục nhật tuất bài

Nhạn quá trường không, Ảnh trầm hàn thủy. Vô diệt vô sinh, liên hoa quốc lý.

Cung duy:

Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỉ Khưu (Khâu, Kheo) giới tự Tâm

Phương. Thích Mẫn Biện Thiền sư nhục-thân Bồ Tát Thiền Tòa hạ, phổ cập Thề duyên đoạn xứ tòng tha đoạn, kiếp hỏa quang trung vũ nhất hồi.

Giáng phó thiên đường chứng minh công đức.

Hương hoa thỉnh:

Nhất tâm phụng thỉnh. Trúc Lâm bí điển, phong đức di trần.

Tâm tự ký hội chi Mộc. Thân đông như địa chi không.

Thuần hồ pháp tử, trùng xử sinh xuân. Hạo Hạo hồ. Hi hi hồ!

Khai nhan tuý mục, xưng tính vong tình.

Tiên dao cực lạc chi thiên. Nhà sái lưu ly chi địa.

Duyệt ý nan cùng, hương quang bất tận.

Cung dung:

Nam mô Tiên Hưng Pháp Ma ha Tỉ Khưu giới tự Tâm Phương Thích Mẫn Biện Thiền sư, nhục thân Bồ Tát, phổ cập Tây Thiên Đông Thổ, Nam Việt lịch trị Tổ sư, hậu tiến tiền tu, thanh tịnh hải chúng, tha phương thỉ giới, đồng nghiệp chư vị giác linh thiền toạ hạ.

Duy nguyện:

Thế duyện đoạn xử tòng tha đoạn. Kiếp hào quang trung vũ nhất hồi

Giáng phó Thiền Đường chứng minh công đức. Hương hoa thỉnh:

Nhất tâm phủng thỉnh: đồng nghiệp tịnh bang , xuất trần nghiêm thổ.

Thượng chí nhất tâm bất loạn, hạ chí thập niệm thành công.

Linh quang độc diệu, chân chiếu vô tư, trái chủ oan gia trường biệt, Dao Trì Kim Địa như chi, Hóa Công chi diệu, Thiên Nhiên chi kỳ.

Cửu Phẩm Liên khai trần quýnh dị. Nhất sinh phú hữu hải vô trần.

Cung duy:

Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỉ Khưu giới tự Tâm Phương Thích Mẫn Biện thiền-sư nhục thân Bồ Tát, Thiền Tòa hạ.

Nam Mô Linh Thông Tiểu Am, Chu tính Tỉ Khưu giới tự Nguyên Thanh, Thích Tri Túc thiền - sư nhục thân Bồ Tát; Tỉ Khưu giới tự Thanh Tiết, tự Thanh Thực: sa-di giới tự Nguyên Đào, tự Duy Thông, phổ cập Tây Thiên Đông Thổ, Nam Việt Lịch Đại Tổ Sư, hậu tiến tiền tu, thanh tịnh hải chúng, tha phương thử giới, đồng nghiệp chư vị giác linh, Thiền tòa hạ.

Duy nguyện: Di Từ Bi thủ, đề cung Tây hành, phùng phó thiên đường, chứng minh công đức. Hương hoa thỉnh:

Di Từ Bi thủ, đề cung Tây hành, phùng phó thiên đường, chứng minh công đức. Hương hoa thỉnh:

Nhất tâm phụng thỉnh, thập nguyệt hoài thai, tam chiêu tọa thảo.

Càn khôn đức trọng dã nan tuyên. Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt. Thống vạn cổ cương thường. Y! nhất đoàn trung hiếu.

Hinh nhĩ tịch thiện, khiết nhĩ thần tôn.

Cảm thương thán nhạ, Ai tai thiết tâm !

Cung duy:

Hiển Tổ Khảo Nguyễn Quý - Công, tự Phúc - Hiền.

Tỷ: Tạ - thị, hiệu Diệu Uy.

Nguyễn Quí Công, tự Phúc Vị.

Nguyễn Thứ Thất, hiệu Diệu Trì, phổ cập Gia Tiên nội ngoại, nhất thiết viễn cận đẳng chư hương hồn. Duy nguyện:

Pháp lực phổ từ vô phất giới. U hồn hàm phục thử siêu thăng.

Giáng phó Thiền Sàng thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh:

Nam Mô Ma Ha Đăng Tháp Tỉ Khưu giới tự Thanh Diên, hiểu Trường Thọ, Thích Tổng Hòa, nhục thân Bồ Tát, giáng phó Thiên Đường, chứng minh công đức.

Thượng lai nghênh thỉnh, ký mộc quang lâm, an tọa chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

Thiền lưu hóa tự nhật tiêm tân, ==>Hoài mộ thiên thu kính tự Thần,

Dao vọng Tây càn thân lễ thỉnh, Giáng lâm Đông Thổ chứng duy cần.

Liêu Thiên hải chúng, thùy quang chiếu, Sa giới hàm linh hạ thần.

Phàm, Thánh giao tham đồng tán ngưỡng, Lai thành lai hạ bảo nghiêm thân.

Nam Mô An Bảo Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát. Thượng lai An Tọa Chân Ngôn.

Tuyên dương dĩ cánh, chúng đẳng kiền thành, đô thân phụng hiến.

(Biến tự cam lồ. Phổ Cúng Dàng Chân Ngôn các thất biến.)

Thử tự sắc, hương, vị: Vô Thượng Cúng ! Tam quan viên chiếu hưởng tư thành.

Vô biên từ đức hi thân chứng, Đồng thể Chân Như, nguyện thấu tình.

Liên Bang quốc độ, tuyền dũng Thất Trân. Tự tiền bảo bát phó như vân,

Thiên ban thú vị. Trần sau lẫm di thần. Phong quang tướng hảo thân.

Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Thượng lai hiến cúng dĩ canh, sở hữu sớ văn, cẩn đương tuyên độc.

(Hóa sớ, tụng bát nhã).

Liên Hoa quốc lý, trường thiệt tướng cổ câm (kim)

Trần ai niệm Phật, hóa vãng phi hoa tâm.

Hoa khai kiến Phật, nhập diệu giới đầu châm.

Nan cùng bi nguyện, thốn thổ thốn hoàng câm (kim)

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật !

Liên Bang phúc tụ hải vô nhai, ==>Nan toán Thượng Nhân thăng Bảo Đài.

Đồng chí cao siêu tê sính vực, Thân tình du thưởng bộ kim giai.

Hoa khai quả chứng huyền cơ thú, Túc đạp liên sinh hóa lý khai.

Cẩm tự danh đề long hổ bảng, Vĩnh thân phú quý bội trần ai.

Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

BẢN DỊCH NGHĨA VĂN THỈNH TỔ

Họ Nguyễn Quang, thôn Văn Nội, trang Thắng Lãm

 

Hương khói vờn quanh, tàn lọng chen,

Tầng tầng hóa vãng chín đài sen

Nơi nơi chầu vọng Di Đà Phật,

Chỉ nẻo Đài Sơn, Mẹ chiếu đèn(1)

Nam Mô Hương Vân Cát Bồ Tát Ma Ha Tát.!(2)

Hương hoa la liệt, đèn nến giao quang,

Ai nấy lòng thành, chí tâm kính lễ.

Tâm địa trong sáng như ngọc Lưu Ly.

Mặt trời soi rạng vẻ nghiêm trang.

Khi đó, nghĩ nhớ, tưởng mộ đến Phật, đến Tổ như lòng con nhớ Mẹ.

Dung nhan chư Phật như đúc bằng vàng ròng. Chất ngọc kỳ diệu như hoa bay.

Y vào nguyện lực từng người,

Tam Thánh trên chín đài sen sẽ đón về Tây Phương.

Phút giây chớp mắt từ cái sống sang cái chết,

Thương thay biên tế bao la kia.

Nam Mô Độ Nhân Sư Bồ Tát, Ma Ha Tát!

Vẻ trang nghiêm trên từ - đường, đông người lễ bái trước án-kỷ, muốn đón Thiền Tổ giáng linh, nên mang nước ở Tào Khê về vẫy rảy. Nước ấy là tuyết lạnh ôm châu, sóng thanh ôm nguyệt. Khí thiêng như hoa phô bốn sắc, hoặc ở dưới bình sen Viễn Công, hoặc ở trong ao báu nơi Lạc Quốc(3)

nh Phàm, cảnh Thánh tiêu dao,

Nước thiêng Tịnh Độ rảy vào Cung Thiên.

Nay đem vẫy khắp án tiền,

Ngàn muôn cặn bụi Giường Thiền sạch trơn.

Này đây Bí Mật Chân Ngôn(4),

Từ "Chuẩn Đề Chú" (5) luôn luôn tụng trì.

Ngọc Như Ý đáng so bì,

Tưới phun hoa nhị không chi sánh tày...

Nước như Hoa, mà Hoa như Nước,

Nước cùng Hoa vô-trước lụy trần.

Nước thuần, Hoa túy, trong ngần,

Nhị Sen ắt nở quý trân ngạt ngào.

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát!

Kính nghe (rằng)

Muốn đón Thiền Tổ trên Chín Đài Sen,

Nên thắp pháp hương Ngũ Phần.

Hương ấy gốc nằm chìm ở Tịnh- Vực (cõi tịnh),

Lá che kín cảnh trần- lao (khó nhọc).

Vun bồi đâu chỉ một đời công,

Gìn giữ là do sức bách thần .

Thơm nức từ xưa,đường chỉ một,

Tuyệt vời tơ gấc, giá khôn thông.

Chỉ nương Bồ Tát chất chồng,

Làm sao liệu trước Thần Rồng hiện ra ?

Đời nay coi dựa đời xưa,

Khắp nơi đồng phụng không chừa nơi nao.

Chân Ngôn Hương thắp ngạt ngào,

Chuyên công truyền tụng, nhiếp vào trong tâm.

Chân Hương Ngũ Phận hiếm trên trần,

Mật Tín Từ Phong nhẹ ruổi dần.

Một Tấm Lòng Sâu ôm Trời Đất,

Chín Đài Sen Báu rõ Xa Gần.

 

Tấm lòng son niệm Phật,

Hoa Quế đỏ ngậm hương.

Giờ lâm - chung, chính niệm rõ ràng.

Nghe không trung, vang lừng thiên nhạc

Dẫn linh hồn siêu độ Tây Phương.

Thân thích đều bi thương,

Dâng cúng lễ chưng- thường.

(Chưng thường: lễ đơm, lễ cúng cơm)

 

Nam Mô Hương Cúng Dàng Bồ Tát Ma Ha Tát !

Kính nghe: nhân từ kiếp trước, quả đến đời này.

Vỏ bình giả trong giấc mộng.

Cắt ô nhiễm ở cửa chùa.

Cầu xin sắc trước, Chăm phụng Kinh này.

Rộng ban hàm thức,Cùng dự thềm Tây.

Thành Trời chợt tin báo, Bảng Sen đầy tên đề.

Cõi uế-bang, chân không đặt tới, Nơi Tịnh Độ, hồn đợi từ lâu.

 

 

Nay nhân giới tiết, . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

Ngày . . . . . . . . . . . .. . . , đền tuần húy nhật,

Đen trắng vơi đầy dâng đạm bạc,

Tháng ngày bồi đắp tác chiêm hoài.

Dâng mâm lục cúng, thỉnh lễ tam thân.

(Tam thân: ba lần hương và ba lần bái)

(LND :tam thân, nếu viết cũng có thể là cha con,vợ chồng,anh em của tiên tổ)

Này trao Phụng Thỉnh Chân Ngôn,

Chú tâm tịnh ý luôn luôn tụng trì.

 

Nam Mô bộ bộ đế, ly già ly, đát si nga si da.

Kính thỉnh Chân Ngôn từ trên tới, đã tuyên dương rồi.

Các hàng nhân - chúng kính tin, dâng hương, dâng hoa đón mời.

Một lòng kính mời, ham sinh cảnh ảo, mở mối duyên xưa.

Mơ màng mảy bụi trong nước trần gian,

Lạ thấy trên cõi giác có bậc giác người mê.

Ruộng bi thương dễ ghi chép, bể nguyện ước khó gọi tên.

Vua, quan,sĩ, thứ, rảnh đến coi đây thuần đất quý,

Thánh, phàm, thiện, ác, noi theo từ đấy giả duyên sinh.

Dần dần nên người, rạo rực chán đời.

Rũ trần- lụy ở cửa Thiền. Buông giới - đao ở bình sen.

Thường nói sinh hoằng tì ni, tử quy an dưỡng,

(sinh ra lớn lên được Tạo Hóa giúp đỡ, thác về thì được yên nghỉ)

Há bảo thực hư đồng thể, nhân quả tương phù.

(giả và thật là một thể,nhân và quả giúp đỡ lẫn nhau)

Các Thánh đến từ phương Tây nhiễu quanh Vũ Trụ.

Chùm mây bay tới Đài Hoa trụ ở Hư Không.

Nay giờ Tuất, ngày Mười Sáu, tháng Mười, năm Canh Thân,

Nhạn bay qua khoảng vắng, bóng chìm lặng nước hàn.

Trong cõi nước Hoa Sen, không sinh không diệt.

 

Kính nghĩ:

Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới tự Tâm Phương, Thích Mẫn Biện thiền - sư nhục- Bồ Tát Thiền Tòa hạ, gồm đến Đức Tây Thiên Đông Độ Nam- Việt Lịch Đại Tổ - Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác - linh chư vị đồng nghiệp Thiền Tòa hạ...

Duy nguyện:

Luôn niệm du hành nơi Lạc - Quốc.

Hằng giờ lễ khấn đấng Từ - Tôn

Giáng phó Thiền Đường, chứng minh công đức.

Dâng hương hoa:

Một lòng kính thỉnh: Bí-điển Trúc Lâm, đức lớn để lại trần gian.

Lòng như cây đã thành tro. Thân như bùn đất đã thành không.

Thuần theo pháp-hỷ.Tùy chỗ sinh xuân. Lồng lộng thay ! Sáng sủa thay!

Mở mặt, điểm mắt, gọi tính quên tình.

Tiêu- dao bầu Trời Cực Lạc. Nhàn hưởng cõi Đất Lưu Ly.

Sướng ý vô cùng, sáng thơm không dứt.

Kính nghĩ:

Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới- tự Tâm- Phương, Thích - Mẫn - Biện thiền- sư nhục-thân Bồ Tát, gồm đến Đức Tây- Thiên Đông - Độ Nam - Việt Lịch - Đại Tổ - Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác - linh chư vị đồng nghiệp Thiền - Tòa trở xuống...

Duy nguyện :

Duyên đời dứt đoạn, theo mà dứt.

Tro lửa quang - trung lộn một vòng.

Giáng phó Thiền Đường chứng minh công đức. Dâng hương hoa thỉnh:

Một lòng kính thỉnh:

Đồng - nghiệp tịnh - bang

Xuất thần nghiêm thổ.

Trên thì một lòng không loạn. Dưới thì mười niệm nên công.

Ánh thiêng bừng sáng, chiếu khắp không riêng.

Con nợ, nhà oan vĩnh - biệt.

Cõi vàng, ao báu đi lên.

Hóa công huyền diệu, Thiên nhiên lạ kỳ.

Chín lớp sen phô, trần khác hẳn.

Nhất sinh giàu có, biển vô bờ.

Kính nghĩ :

Nam Mô Tiên Hưng Tháp Ma Ha Tỳ Khưu giới- tự Tâm- Phương, Thích - Mẫn - Biện thiền- sư nhục-thân Bồ Tát, Thiền Tòa hạ,

Nam Mô Linh Thông Tiểu Am, CHU tính ( Chu Văn An) Tỳ Khưu giới - tự Nguyên Thanh, Thích - Tri -Túc Thiền - Sư nhục thân Bồ-Tát, Tỳ Khưu giới- tự Thanh-Tiết, tự Thanh- Thực: sa - di giới tự Nguyên- Đào, tự Duy Sâm, trên tới Đức Tây Thiên Đông Độ Nam Việt Lịch Đại Tổ Sư (Bồ Đề Đạt Ma), chư vị hậu tiến tiền tu, thanh tịnh hải chúng, các phương các cõi, giác linh chư vị đồng nghiệp, dưới Thiền Tòa.

Nguyện xin:

Lấy bàn tay từ bi, cùng di về phía Tây (cõi Tịnh Độ), giáng xuống thiền đường chứng minh công đức. Dâng hương hoa mời.

Một lòng kính thỉnh:

Mười tháng dài mang nhau thai,

Ba buổi sớm ngồi nệm cỏ.

Cha Mẹ ơn sâu rồi cũng biệt,

Đất Trời đức nặng khó tuyên dương.

Một đoàn trung hiếu, ôi thương nhớ...

Thương nhớ muôn xưa mối cương thường.

Rạng sáng dâng lên chén rượu tịnh.

Thơm thảo cơm chiều lễ cúng dường.

Thê thiết nỗi lòng đàn cháu chắt

Đón mời Tiên Tổ, dạ ngùi thương.

Cung duy:

 

Hiển Tổ Khảo (ông) Nguyễn quý-công, tự Phúc - Hiền.

Tỷ(bà) họ Tạ, hiệu Diệu-Uy.

Nguyễn quý công, tự Phúc Vị.

Thứ nhất (bà hai) hiệu Diệu-Trì.

Gồm hết thảy các hương linh Gia Tiên nội ngoại xa gần.

Duy nguyện:

Phép Phật trùm phương không giới hạn.

U hồn níu náu, vụt siêu thăng.

Thiền-Đường xin hãy về tham dự,

Rồi nhận nơi đây...lễ Cúng Dàng.

 

Hương hoa thỉnh: (dâng hương hoa)

Nam Mô Ma Ha Đăng Tháp tỉ-khưu, giới-tự Thanh Diên, hiệu Trường Thọ, Thích-Tổng-Hòa, nhục thân Bồ Tát, xin giáng-phó Thiền đường, chứng-minh công-đức.Thỉnh đến từ trên, đã gội quang lâm, kính xin trì-tụng An Tọa Chân Ngôn.

Dòng Thiền hóa-giải, mỗi ngày tân,

Hoài-mộ ngàn thu kính tựa thần.

Giao vọng Tây-Thiên, dâng lễ thỉnh.

Giáng lâm đông thổ, chứng duy cần.

Trời xa hải chúng gieo luồng sáng,

Cõi tục hàm linh cảm ánh thần.

Phàm, Thánh giao lưu đều tán ngưỡng,

Lai thành lai hạ, báu tôn thân.(3)

Nam Mô An Bảo Tọa Bồ Tát, Ma Ha Tát.

 

Dâng lên An Tọa Chân Ngôn.

Ngợi khen hết mức. Chúng đẳng kính thành. Đều dâng phụng hiến.

"Biến-tự Cam Lồ. Phổ cúng Dàng Chân Ngôn"

(niệm câu chú trên đây bảy lần)

Bữa cơm gồm Sắc, Hương và Vị,

Dâng lên thỉnh cúng Đức Vô Thượng.

Tam Quan Viên Chiếu rõ lòng thành.

Từ Đức bao la chứng thân đẳng

Đồng thể Chân Như, nguyện thấu tình.

Hoa sen Quốc độ, Suối vọt bảy loại trân.

Cơm trong bát báu, hơi bốc như vân (mây).

Ngàn điều thú vị, bữa cơm trân hưởng lúc di-Thần.

Sáng tươi tướng tốt hiện ngoài thân.

Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tất Ma Ha Tát.

Lễ hiến cúng lên TRÊN đã mãn. Nay có sớ-văn.

Kính xin đọc rõ.

(Hóa sớ rồi, sẽ tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật)

Trong nước hoa sen

Lưỡi dài mang tướng xưa nay.

Cõi trần niệm Phật, thác rày: anh hoa.

Hoa nở liền thấy Phật, nhập diệu -cải gieo kim.

Cùng khó, lời nguyền bi. Tấc đất tấc hoàng kim.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật!

Cõi sen Tụ phúc, biển vô nhai.

Khó lường Đức Phật lên Bảo -Đài.

Đồng chí cao siêu lên lạc - cảnh,

Thân tình dạo thưởng lối kim giai.

Hoa phô, quả chứng, cơ huyền diệu,

Sen nở, chân dầm, lẽ hoá hay.

Chữ giấm, tên đề, bảng rồng hổ.

Sang giàu, thân rạng, cõi trần ai.

Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.  

(Hết Bản dịch văn cúng tổ)

Chú thích:
 (1) Đài Sơn: Ngũ Đài Sơn, một trung tâm Phật Giáo lớn ở huyện Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, tượng trưng cho Phật giáo Trung Quốc. Mẹ Phật từ cõi Đức A Di Đà và Quan Âm Bồ Tát là người mẹ hiền. Chiếu đèn : soi sáng , hướng dẫn.
(2) Nam mô là tôi xin quy y (tuân theo); Hương Vân Cái Bồ Tát là đạo hiệu của cụ bà Đỗ Đoan Trang (thường gọi là Đỗ Quý Thị); Ma Ha là đại , lớn; Tát là Bồ Tát (Ma Ha Tát là đại thánh Bồ Tát. Mỗi lần Khai Kinh Kệ trước tiên phải đọc (niệm) câu này.
(3) Lạc Quốc: cõi Cực Lạc, Tịnh Thổ hay Tịnh Độ của Phật A Di Đà.
(4) Chân ngôn: âm thanh chân lý của ch Phật. Rút từ bí mật Chân Ngôn Tạng.
(5) Chuẩn Đề Chú: Lời mật chú của Bồ Tát Chuẩn Đề Quan Âm.

- Lời người dịch: Phải hiểu sâu sắc về Phật học mới lý giải được ý nghĩa bí ẩn trong những câu chữ ở bài này, cũng như câu chữ trên nhiều ngữ cảnh khác trong tập "Tổng Khoa" này. Người dù đọc mỗi lời diễn giải qua nhiều trang giấy cũng không lĩnh hội nổi. 
 

PHIÊN ÂM PHẦN CÚNG GIA TIÊN KHOA

Tâm hương ngũ phận. Đại địa nhân huân.=>Gia tiên viễn cận tất dao văn.

Chúng đẳng lại từ thân thành ý. Tinh cần Tổ nhĩ cộng văn trăn.

Nam Mô Hương Vân Cát Bồ Tát Ma Ha Tát.

Kị thần như thiết. Thiền Tòa trang nghiêm. Chúng đẳng kiền thành. Đồng thân tán kệ:

Sinh sinh, diệt diệt, hựu sinh sinh. => Đông khứ, Xuân lai, vãng phục trình.

Kết quả tòng nhân, nhân bản cố, Tư thân, thể đạo, đạo tuyên minh.

Xuất hoài lịch quán quân thân nghĩa, Nhập thế thâm ân ná dực tình.

Đức hải ân sơn nan dĩ báo. Kị thần như thiết biểu đan thành.

Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Phù dĩ hiếu tâm tài khởi, lễ tịch phương trần, trai tu kính thiết ư linh tiền, diệu soạn phô trần ư đường tịch thượng, đan tâm báo bản, thốn niệm tinh thành, trượng thừa thanh chúng, dĩ gia trì tuyền diễn Phạm-văn chí bí chú, tài quán oan nhất chích, biến sái thập phương, Tịnh Uế Chân Ngôn cẩn dương trì tụng.

Chân Nguyên tịnh thủy, biến sái thập phương. Cung nghinh quang ấm phó thiền sàng.

Tổ nhĩ cung lai quang thụy khí, ==> Mãn đường trắc tổng giáng Thanh Lương.

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cung văn tuệ nhật trường minh chiếu chúc.

Thập phương chi u ám, tâm hương tài khởi nhân huân

Đại địa chi phân phương, hiếu khổ nan thân, hạo thân võng cực.

Kiền bôn ngũ phận chi chân hương, dụng hiến toàn gia chi tổ ấm. Thanh quang Thiền Tọa, nùng úc linh đài, Dục thấu đạt ư gia nương, tân quang đằng ư tông tổ. Giao hữu nhiên hương chân ngôn cẩn dương trì tụng.

Nhân Hương, Lễ Hương, dữ lễ hương. => Phức úc vân đằng biến thập phương.

Ái kiến tường yên thông Dĩ, Hỗ, Minh minh thiền tọa phúc vô cương.

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Thiết dĩ, Phạm-âm tuyên diễn sinh linh liễu ngộ dĩ minh tâm. Pháp nhạc khanh tương, u hiển văn trí nhi giác ngộ. Hiếu trung nhất dã, tâm phật diệc nhiên. Côn Sơn, thái nhạc chi di cao, Càn tượng khôn duy chi quảng bá. Nhiên hương mãn thất, đăng xán quầng phương. Như như viễn cận chi dao lâm, đãng đãng tôn ti chi trắc giáng. Giao Hữu chiêu thỉnh Chân ngôn, cẩn dương trì tụng.

Chân ngôn chiêu thỉnh diệu thần cơ => Viễn cận tiên gia phó tất nhiên.

Thước thước quang âm thiên bất dạ, Như như đoan tọa nhạ lai nghi.

Nam mô bộ bộ Đế ly già ly đa ly đát đa Phạt Đa Da. Hương hoa thỉnh:

Nhất tâm phụng thỉnhCàn Khôn dựng tú, thiên địa trữ tinh, phát sinh đạo thụ ư thiền Lâm, dũng xuất liên hoa ư thích Hải. Căn thâm quả mậu, đức hậu lưu quang, vĩnh hoài truy viễn tri tâm, thiết ư thận chung y chí.

Cung duy:

Tổ, Tỉ (mỗ), duy nguyện: Hồn như tại nhật,Phách nhượng sinh thì. Bằng pháp lực dĩ đề huề, Trượng thần công nhi dẫn chí. Giáng phó Thiền Sàng, thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh :

Nhất tâm phụng thỉnh: Khôn duy hạo hạo, Càn tượng nguy nguy. Triệu bồi nhất mạch chi gia phong, Thùy dũ bách niên chi đức nghiệp. Đức thượng cao tuấn. Ân hải uông dương. Thốn tâm ngưỡng vọng chi vô thời, Đan khổn biểu thành ư thử nhật.

Cung duy:

Tổ, Tỷ (mỗ) cập Tổ Tiên nhất thiết đẳng chư linh hồn. Duy nguyện:

Nghiễm nghiễm dao lâm, quang Nội Ngoại như như trắc giáng, tự Tôn Ty giáng phó Thiền Sàng, thụ tư cúng dường. Hương hoa thỉnh:

Nhất tâm phụng thỉnh: Sinh sinh phụ mẫu, thế thế Quân, Sư.

Trác ma ấu thể dĩ thành chân, Khai phát tuệ tâm nhi xuất chúng.

Ân thùy võng cực, Đạo ngưỡng di cao

Phấn thân mạc đáp ư sinh thành, Toái cốt nan thù ư cúc dục.

Cung duy:

Phổ cập Tam Thế Tổ Tiên, đẳng chư hương hồn. Duy nguyện:

Nghiễm nghiễm Càn Khôn đồng phú tái, Minh minh Nhật Nguyệt chiếu tôn ty.

Giáng phó Thiền Sàng, thụ tư cung dưỡng. Hương hoa thỉnh:

Thượng lai nghinh thỉnh, ký hạ quang lâm, An Tọa Chân Ngôn, cẩn đương trì tụng.

Càn tượng nguy nguy quang chiếu xứ, => Khôn duy hậu bạc tái quần luân.

Sâm sâm nội ngoại Chân Như hiện, Thước thước ân thùy phúc tự thân.

Nam Mô An Thiền Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ban ban Thiền vị. Nhất nhất phỉ nghi.

Cúng trai soạn ư linh tiền. Biểu trân tu ư đường thượng.

Giao hữu Biến Thực Chân Ngôn, cẩn đương trì tụng.

Nam Mô Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cúng dường dĩ tất, cụ hữu sớ văn, nghi đương tuyên độc.

Thượng lai văn sớ, tuyên độc dĩ chu, lượng mộc tôn từ, phủ thùy nạp thụ, kim hữu sớ văn, bằng hóa hỏa.

Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tây Phương Tịnh Độ tại mục tiền,=> Bất dụng tha nhân biệt ngoại truyền.

Tứ tự hồng danh quang nhất niệm, Tu du trực đáo thái bình thiên.

Nam Mô A Di Đà Phật !

Lạc Bang trực chỉ tại ngô tâm,==>Tâm thượng thiên nhiên, mạc ngoại tầm !

Tầm cứu Chân Tâm, nguyên Lạc Thổ, Độ tâm thanh tịnh tức đăng tâm.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ Tát Ma Ha Tát!

*


 

BẢN DỊCH BÀI VĂN CÚNG GIA TIÊN (1)

Tâm hương năm thức đất hơi mây.

Gia Tổ xa gần ắt chứng đây.

Từ thân chúng đẳng dâng thành ý,

Cầu xin Chư Tổ đến nơi này.

Nam Mô Hương Vấn Cái Bồ Tát

Sớm ngày giỗ chúng con trần thiết,

Trên Thiền Toà Liêm khiết nghiêm minh.

Chúng con tấc dạ tinh thành,

Góp lời đọc kệ, cúi mình dâng lệ:

Sinh sinh, diệt diệt lại sinh sinh.

Đông hết, xuân sang chuyển vãng trình.

Kết quả theo nhân nhân gốc cũ.

Nhớ (Hai) thân nương đạo, đạo dòng minh.

Xuất hoài biết rõ quân thân nghĩa,(2)

Nhập thế ơn sâu trách nhiệm á dực (3) tình.

Biển đức non ân khôn báo đáp,

Dọn bày cúng giỗ tỏ tâm thành.

Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát!

Ôi! Hiếu tâm bừng dậy, tiệc lễ mới bày.

Bữa cơm chay, kính dọn ở linh tiền (bàn thờ)

Mâm cỗ khéo phô bày trên bàn tiệc.

Tấm lòng son báo gốc, tấc dạ nguyên tinh thành.

Niệm diễn Phạn - Văn gồm mật -chú,

Vâng theo thanh chúng để gia trì

Nhúng khăn một giọt, rảy khắp mười phương.

Đón mừng phúc sáng đến thiền sàng.

Chư Tổ đều về bừng thuỵ khí,

Đầy nàh lên xuống nức Thanh Lương.

Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát!

Trộm nghĩ,

Lời thiền tuyên giảng, sinh linh liễu ngộ đã minh tâm.

Nhạc Pháp lừng vang, hồn phách lắng nghe mà giác ngộ.

Hiếu trung là một, dạ phật như nhiên.

Non Côn, núi Thái vút Cao,

Vùng đất vòm trời trải rộng.

Nhang khắp đầy nhà, đèn dong nhiều góc.

Tất thảy gần xa xin đoái tới,

Rộng trùm trên dưới cầu giáng lâm.

Nay có Chiêu Thỉnh Chân Ngôn, kính xin trì tụng:

Chân Ngôn Chiêu Thỉnh nhiệm cơ thần,

Tiên Tổ gần xa ắt ghé trần.

Rực sáng trời cao Tiên Tổ đến.

Đoan cung ngồi đón phút triêm ân.

Nam Mô Bộ Bộ Đề Ly Đát Si Nga Si Da.

Hương hoa thỉnh:

Một lòng phụng thỉnh

Đất trời nuôi dưỡng tinh hoa.

Nẩy sinh gốc đạo ở rừng Thiền.

Rộ nở đài sen nơi biển Phật.

Rễ sâu quả tốt. Đức dầy Sáng ngật.

Tấm lòng tìm xa nhớ mãi.

Nẻo ý lo sâu nghĩ cùng.

Cung duy:

Tổ Ông, Tổ Bà (mỗ)(4) ......................................

......................................

Duy nguyện:

Hồn như ngày ở, Phách tựa thời sinh.

Theo pháp lực mà dắt dìu. Dựa thần công mà đi đến.

Giáng phó thiền sàng. Nhận hưởng cúng dàng.

Hương hoa thỉnh: . . . . . . . . .

Một lòng phụng thỉnh

Tượng trời lồng lộng. Vùng đất mênh mông

Rủ rộng trăm năm đức nghiệp.

Mở bồi một mạch gia phong.

Bể ân sâu rộng, non đức thẳm cao.

Tấc dạ thời thường ngưỡng vọng.

Tấm lòng ngày giỗ kiền thành.

Kính nghĩ tới:

Tổ Ông, Tổ Bà (mỗ) ....................... và hết thảy cá hương linh Tiên Tổ

Duy nguyện (Gia Tiên):

Nghiêm trang từ xa đến,

Sáng Trong Ngoài ung - dung trắc giáng,

Hàng Tôn Ty tham dự Đàn Thiền.

Hưởng lễ cúng dàng.

Dâng hương hoa, một lòng phụng thỉnh:

Đời đời Thầy,Chủ,- kiếp kiếp Me, Cha.

Miệt mài ảo - thể đã thành chân,

Cởi mở tuệ - tâm mà xuất chúng.

Đạo trông cao -vút ơn xuống vô ngần.

Xương dẫu nát chưa đền ơn nuôi nấng.

Thân dù tan chưa báo đức sinh thành.

 

Kính nghĩ đến:

Tất cả các hồn thiêng Ba Đời(5) Tiên Tổ.

Nguyện Cầu:

Bên vững đất trời cùng che chở,

Sáng trưng nhật nguyệt chiếu tôn ty.

Kính xin chư vị

Giáng phó Đàn Thiền nhận lễ cúng dàng.

Hương hoa dâng:

Mời khấn lên trên, giờ đã quang lâm.

Kính xin trì tụng, An Tọa Chân Ngôn.

Tượng trời vòi vọi chiếu nơi nơi,

Khuôn Đất mỏng dày chở lẽ đời.

Nghiêm mật trong ngoài như thấy thật,

Rạng rủ nguồn ân, phúc đến thời.

Nam Mô An Thiền Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Mát ngon Thiền-vị, mọi món hợp tình.

Mâm chay tịnh dâng ở linh - tiền.

Cỗ trần - tu bày trên hương án.

Kính xin trì tụng Biến Tự Chân Ngôn:

Nam Mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

Lễ cúng Dường đã mãn.

Có đủ bản sớ văn.

Chúng con xin tuyên đọc.

Dâng sớ lên trên. Tuyên đọc đã xong.

Gội ơn Tôn Từ, cúi mình nạp nhận.

Bài sớ - văn này, kính xin hóa trọn.

Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát!

Tây Phương Tịnh độ ở nhãn tiền.

Không dụng tha nhân biệt ngoại truyền,

Bốn chữ hồng danh một niệm sáng,

An bình phút chốc đến Tây Thiên.

Nam Mô A Di Đà Phật !

Lạc Bang đến thẳng tự Tâm ta.

Tâm đó thiên nhiên chớ tìm xa.

Tìm đến chân tâm là tịnh độ,

Lắng tâm thanh-tịnh, gặp Di Đà.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ Tát Ma Ha Tát!

* * *

Ghi chú:

(1) Khoa cúng gia tiên là bài văn cúng từ xa xa đến nay được dùng tại tổ đường họ Nguyễn thôn Vân Nội.
(2) Xuất - Hoài: ra khỏi bụng mẹ, sinh ra
(3) Tán dực :giúp đỡ
(4) Mỗ: tức ở đây ghi rõ tên của Tổ được cúng lễ là gì?
(5) Theo thuyết luân hồi, ba đời là 3 kiếp ( quá khứ, hiện tại và vị lai) của tiên tổ

 

  Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. Câu tụng này có trong phần mở đầu khi khai kinh kệ của nhà phật.

 Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân

 Tán hương
Lư Hương sạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất dao vân.
Tuỳ xứ kiết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.

Nam- Mô- Hương- Vân- Cái- Bồ- Tát (3lần)

Khai Kinh Kệ
Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu
Nghìn muôn ức kiếp dễ gặp đâu,
Nay con nghe thấy xin chăm tụng,
Mong Ðức Như Lai chỉ nghĩa mầu
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu-Ni Phật.
(3 lần)

Nghi Thức Tụng Kinh Báo Ân và Vu Lan 

Tán Lư Hương 

Kim lư vừa bén chiên đàn
Khắp xong Pháp giới đạo tràng mười phương

Hiện thành mây báu kiết tường

Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiền

Pháp thân toàn thể hiện tiền

Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho

 Nam- Mô- Hương- Vân- Cái- Bồ- Tát (3lần)  

 
mo_than_nong

 Mộ Vua Thần Nông ở Phụng `Châu, Chương Mỹ,  Hà Tây

 Theo Cổ Lôi Ngọc phả Truyền thư , Đế Khôi hiệu là Thần Nông là con trai Đế Viêm (vua xứ nóng- vua phương nam)- họ Phục Hy (có tài liệu gọi Thần Nông là Đế Viêm). Sinh thời Ông chăm chỉ chuyển hướng lúa nương sang trồng lúa nước, trồng dâu, dệt the, nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh nên người trong nước gọi là vua Thần Nông,  định đô ở Trầm Sơn (núi Trầm). Đế Thừa húy là Sở Minh Công nối ngôi Thần nông, Ông có 03 con trai là Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) lấy bà Đỗ Thị Đoan Trang sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương). Vua Thần Nông mất ở Phụng Châu, sau cải táng đưa về Tỉnh Trung, Đình Sở, huyện Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Mộ Ông còn gọi là gò Sở đến nay vẫn còn.Người dân trong vùng có tục lệ khi có việc đi qua thường thắp hương  và đắp lên mộ những hòn đất nhỏ để cầu phúc. 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn