Ca
trù là loại hình nghệ thuật gắn liền với thơ ca, được hát lên từ những câu thơ
và có thể nói rằng, ca trù (ban đầu gọi là hát ả đào) là loại hình nghệ thuật
bắt nguồn từ lối hát múa trong cung điện các vua chúa ngày
xưa
Từ xưa, các
vua chúa Việt Nam đã có những tổ chức lễ nhạc. Lễ nhạc trong cung đình vua chúa
thường gồm 2 bộ phận là Nhã nhạc và Yến nhạc. Nhã nhạc dùng trong các buổi tế
tự, các buổi đại triều, thường triều, để tăng thêm phần nghiêm trang, trọng đại.
Yến nhạc dùng trong các buổi tiếp đãi sứ thần ngoại quốc, các yến tiệc lớn trong
cung đình... để nói lên cảnh thái bình, thịnh vượng.
Từ đời nhà Đinh và Tiền Lê trở về trước
không thấy sách sử nói đến những sinh hoạt hát múa, nhưng từ đời nhà Lý trở về
sau ở một số sách sử, chúng ta đã thấy bóng dáng của những sinh hoạt
đó.
Sách Khâm định Việt sử (quyển 2,
trang 39) ghi: "Năm Thông Thụy thứ 2 (1035), vua Thái
Tông sách lập Thiên cảm Hoàng hậu, phong 13 người làm Hậu phi, kén 18 người ngự
nữ hầu hạ và tuyển hơn 100 ca nữ".
Trần Trung Cương (Thượng thư bộ Lễ đời
nhà Nguyên – Trung Quốc) khi đi sứ sang Việt Nam (đời nhà Trần), đã ghi lại
trong Sách Sứ Giao Châu tập như sau: "Khi dự yến
tiệc ở điện Tập hiền, có vài mươi đứa con trai, con gái ngồi ở dưới chiếu mà
hát, đàn tỳ bà và đàn tranh cùng hòa với nhau..."
Sách Công dư tiệp ký (Vũ Tuần
Phủ, trang 78) viết: "Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào
quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết dân
nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát gọi
là ả đào hay đào nương".
Sách Việt Nam ca trù biên khảo
(Đỗ Bằng Đoàn
và Đỗ Trọng Huề, trang 34, 35) viết: "Năm Hồng Đức (1470 – 1497), vua sai
các quan văn thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh kê cứu âm nhạc
nước Tàu, hợp vào âm điệu nước nhà mà đặt ra hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ
Đồng văn chuyên tập âm luật, bộ Nhã nhạc chuyên luyện nhân thanh, cùng thuộc
quyền quan Thái thường trông coi. Âm nhạc dân gian thì đặt giáo phường cai quản,
nhã nhạc và tục nhạc riêng biệt, không lẫn vào nhau.
Âm luật đời Hồng Đức có: Cung Hoàng
chung, Cung Nam, Cung Bắc, Bát đoạn cẩm, Đại thực, Dương kiều, Âm kiều, Hà bắc,
Hà nam, Thiết nhạc, Đàn lẩy (nẩy), Hát tầng.
So sánh âm luật đời Hồng Đức với lối hát
ca trù ngày nay, ta nhận thấy trong 12 lối hát kể trên, chỉ còn 5 lối lưu truyền
lại là: Cung bắc, Đại thực (Đại thạch), Hát tầng (Xướng tầng), Thiết nhạc (Thét
nhạc) và Hà nam. Riêng lối Hà nam người ta phỏng theo đó mà đặt ra điệu Hát
nói".
Theo sự tích "Tổ cô đầu" thì vào
thời nhà Lê, có ông Đinh Lễ quê ở làng Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh, thuê thợ lấy gỗ ngô
đồng làm ra cây đàn đáy. Ông cùng với vợ là bà Bạch Hoa đặt ra nhiều khúc hát để
dạy cho các học trò của mình nên được đời sau tôn là Tổ cô
đầu.
Các hình thức hát với thơ trong cung
điện vua chúa là diễn tấu của các ban nữ nhạc. Mãi đến thời nhà Hồ, những người
hát được gọi là ả đào. Ca trù phát triển qua nhiều giai đoạn lịch
sử. Tùy thuộc vào sinh hoạt, vào bối cảnh diễn xướng, ca trù còn có những tên
gọi khác như: hát cô đầu, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà
trò, hát nhà tơ...
Riêng việc xác định địa danh xuất phát
của nghệ thuật ca trù, cho đến nay vẫn chưa có những minh chứng cụ thể. Việc xác
định đó được ngầm hiểu như sự xác định đền thờ Tổ. Hiện nay có một số địa phương
có lập đền thờ Tổ: làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh thờ ông Đinh Lễ; làng
Lỗ Khê, huyện Đông Anh, Hà Nội thờ ông Đinh Dự; làng Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây
thờ Đinh Triết... Tuy nhiên, truyền thuyết về ông Đinh Lễ ở làng Cổ Đạm là chi
tiết và được nhiều người biết đến nhất, hơn thế nữa Cổ Đạm là được xem như là
cái nôi của nghệ thuật ca trù. Vì vậy khi nói đến nghệ thuật ca trù thì người ta
chú ý đến Cổ Đạm nhiều hơn cả.
Các lối hát ca
trù
Theo Việt Nam ca trù biên khảo,
Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề cho rằng ca trù có tất cả 46 thể và được chia ra
làm 3 lối hát chính: hát chơi, hát cửa đình và hát thi.
Hát chơi : là lối hát tổ chức tại nhà quan
viên hay nhà ả đào để quan viên thưởng thức. Hát chơi thường hát những bài
tả tình, tả cảnh với sự phóng khoáng, phong lưu, tình tứ. Hát chơi gồm có 15 thể
: Bắc phản, Mưỡu, Hát nói, Gửi thư, Đọc thơ-thỏng-dồn, Đọc phú, Chừ khi (có
nơi gọi là Chử khi), Hát ru, Nhịp ba cung bắc, Tỳ bà, Kể truyện, Hãm, Ngâm vọng,
Sẩm cô đầu, Ả phiền (riêng Ả phiền có tới 20 giọng).
Hát cửa đình: là lối hát thờ thần (thần Thành hoàng).
Hát cửa đình thường hát về những bài sử, về kinh truyện và sự tích danh nhân.
Cách hát rõ ràng, cần nhiều hơi, cao giọng để mọi người cùng nghe rõ. Điệu bộ
nghiêm trang không được lẳng lơ như hát chơi. Hát cửa đình gồm có 12 thể:
Giáo trống, Giáo hương, Dâng hương, Thét nhạc, Hát giai, Đọc phú, Đọc thơ,
Gửi thư, Đại thạch, Bỏ bộ, Múa bài bông (múa), Tấu nhạc và múa tứ
linh (múa).
Hát thi: được tổ chức ở cửa đình, là lối hát để khảo sát tài năng của đào kép. Vào
mùa xuân, các làng sung túc, giàu có thường mở hội và mở cuộc thi ở cửa đình để
chọn đào hay, kép giỏi. Các cô đầu có thể đỗ hoặc không đỗ trong các cuộc thi ở
cửa đình, nhưng phải qua cuộc thi này họ mới được công nhận là người biết hát ca
trù, mới trở thành một cô đầu chính thức.
Hát thi thường qua 4 giai đoạn là: Vãn,
Chầu thi, Chầu cầm, Thi lại.
Vãn là hát sơ khởi, đào hát vài câu Gửi thư
hoặc Thổng Thiên thai; kép hát vài câu Thơ để ban giám khảo
chọn vào Chầu thi. Chầu thi gồm 28 thể, Chầu cầm gồm 17 thể, trong đó có thể
Làm trò vui (làm trò). Trong Chầu thi và Chầu cầm có những thể dành riêng
cho đào, thể dành riêng cho kép, thể dành cho đào và kép cùng hát. Thi lại để
ban giám khảo cân nhắc chính xác để định giải. Thông thường hát thi gồm 10 giải,
có nơi lấy thêm 4-5 giải khuyến khích. Người đoạt giải nhất gọi là Thủ khoa và
giải nhì gọi là Á nguyên.
Ca trù - nghệ thuật
dân gian hay chuyên nghiệp?
Lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù
qua các thời kỳ rất phức tạp, thuở sơ khai nó là ban nữ nhạc trong cung vua với
tính chất là một loại hình nghệ thuật "cung đình". Với lối "hát chơi" phục vụ
cho nhu cầu thưởng thức của một số quan lại, nho sĩ thì nó là một hình thức nhạc
thính phòng. Với lối hát cửa đình - hát trước hương án của các vị thành hoàng
(trong nhà) và hát cả ngoài sân với đông đảo nhân dân tham dự - nó vừa mang
tính chất thính phòng vừa mang tính chất đại chúng. Tuy các lối hát với những
bối cảnh diễn xướng khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung là các sinh
hoạt này luôn luôn có 2 đối tượng: khán giả và diễn viên. Trong đó, diễn viên là
những người chuyên nghề ca hát, khác với các loại hình âm nhạc dân gian khác như
hò, lý... được diễn xướng trong lúc đang làm việc, không có đối tượng khán giả
thưởng thức, chỉ hát cho nhau nghe, có khi tự hát cho mình nghe (như nhạc tài tử
Nam bộ). Điều đó tỏ rõ ca trù là một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp mang
tính bác học.
Thế kỷ 19 có thể nói là giai đoạn phát
triển đến đỉnh cao của nghệ thuật ca trù. Từ nhu cầu muốn thưởng thức những bài
thơ của các nhà thơ nổi tiếng hoặc thơ của chính mình, các quan lại trí thức,
các nho sĩ đã mời ả đào về tư dinh của mình để hát. Chỉ cần 3 người: một ả đào
(vừa hát vừa gõ phách), một kép (người đánh đàn đáy) và chính chủ nhân vừa làm
khán giả, vừa là người cầm chầu (đánh trống). Người cầm chầu vừa điểm trống theo
câu hát vừa là người khen, chê, để thưởng, phạt thông qua hiệu lệnh trống. Chỉ
cần 3 người cũng đã tạo nên một buổi trình diễn, thưởng thức và thẩm định nghệ
thuật trọn vẹn.
Ca trù là một nghệ thuật pha trộn giữa
âm nhạc và thơ ca, mỗi buổi hát ca trù là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà
trong đó cả diễn viên và khán giả đều là nghệ sĩ. Cả hai đều tích cực tham gia
vào cuộc diễn, giữa người diễn và người nghe tìm được một sự đồng điệu. Ca trù
một thời đã trở thành thú chơi tao nhã của các bậc phong lưu, nho sĩ và là loại
hình âm nhạc thính phòng độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Khi ca trù thoát ra khỏi những cung vua
phủ chúa, trở lại cuộc sống nhân dân với những tổ chức giáo phường, tuy vẫn mang
tính chuyên nghiệp nhưng nó được nuôi dưỡng và giữ gìn trong dân gian thông qua
những buổi tế lễ ở cửa đình, những hội hè, lễ tiết ở nông thôn. Và cũng chính sự
phổ biến rộng rãi ra ngoài nhân dân mà ca trù được các danh sĩ rành âm luật và
các tay giáo phường tài hoa bổ sung nhiều lối hát, làm cho ca trù ngày càng
phong phú.
Trong đó, hát nói là một lối hát quan
trọng của ca trù và lối hát đó đã sản sinh ra một thể thơ mới, đặc biệt của văn
học Việt Nam. Nhiều bài hát nói nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,
Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà... là những tác phẩm có giá trị đóng góp cho
nghệ thuật ca trù và cho cả văn học Việt Nam thế kỷ 19, là mầm mống cho thể loại
thơ mới, thơ tự do sau này.
- Hữu Trịnh- nguồn Guitar Việt Nam
Thể thơ Ca trù của những tác giả nổi tiếng
NỢ TANG BỒNG
Tác giả Nguyễn Công Trứ
Vũ trụ giai ngô phận sự1
Chăng công danh chi đứng giữa trần hoàn2.
Chí tang bồng hẹn với giang san,
Đường trung hiếu,chứ quân thân ta gánh vác3.
Thơ rằng : "Đã mang tiếng ở trong trời đất ,
Phải có danh gì với núi sông"
Nợ đèn sách đem nghiên bút trả xong,
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ4
Duyên ngư thủy hội long vân còn đó5
Miếng đỉnh chung cho biết mùi đời.
Nhắn trăng nhủ gió đưa người
Bẻ ngành đan quế cho rồi liền tay6
Trần ai, ai có kém ai?
-------------------------
1. Những việc trong trời dất là phận sự của mình.
2. Trần hoàn : như trần gian, cuộc đời.
3. Quân thân : vua và cha mẹ
4. Cầu xe ngựa: Tư Mã Tương Nhi đời Hán (179-118 TCN) chật vật
mã với công danh,
khi qa cái cầu để đi lập sự nghiệp,có thề rằng " Nếu không ngồi xe ngựa
(nghĩa là
không làm nên) thì không trở về qua cây cầu này!
5. Ngư thủy: cá nước. Long vân: rồng mây. Duyên cá nước, hội
rồng mây: nghĩa bóng
là tôi giỏi gặp vua hiền như cá gặp nước, rồng gặp mây.
6. Bẻ ngành đan quế: dùng người tài gIỏi. Đan quế: quế đỏ.Theo
Tống sử, Đậu Vũ Quân
có năm người con đều đỗ đạt cả,đương thời khen là năm ngành đan quế:
Công rằng: đan quế hai ngành,
Bảng vành thẻ bạc đã đành làm nên.
. (Nguyễn Đình Chiểu)
CHƠI XUÂN KẺO HẾT XUÂN ĐI
Tác giả Nguyễn Công Trứ
Gẫm cho kỹ đến bất nhân là tạo vật1
Đã sinh người lại hạn lấy năm.
Kể chi thằng lên bảy đứa lên năm,
Dẫu ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc!
Lại mang lấy lợi danh vinh nhục,
Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan2,
E đến khi hoa rữa trăng tàn,
Xuân một khắc dễ nghìn vàng đổi chác3!
Tế suy vật lý tu hành lạc,
An dụng phù danh bạn thử thân4
Song bất nhân mà lại chí nhân5,
Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy.
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy,
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù!
Nghề chơi cũng lắm công phu!
--------------------------------------
1. Bất nhân: ác ,độc ác
2. Bi hoan : đau thương và mừng vui.
3.Ý nói: nghìn vàng cũng không mua được một khoành khắc của mùa
xuân
4. Xét cho kĩ thì ở đời cũng nên vui chơi. (Vật lý: lẽ của sự vật
,lẽ đời) sao nỡ để công
danh bó buộc thân mình. Thơ Đỗ Phủ.
5. Chí nhân: hết sức nhân đạo.
Chơi xuân
Tác giả Phan Bội Châu
Quân bất kiến nam, xuân1 tự cổ đa danh sĩ
Đã chơi xuân đưùng quản nghĩ chi chi
Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi
Tùa tám cõi ném về trong một túi
Thơ rằng :
Nước non Hồng Lạc còn đây mãi2
Mặt mũi anh hùng há chịu ri
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế
Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ
Nắm địa cầu vừa một tí con con
Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà
Hai vai gánh vác sơn hà
Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.
______________________________
1. Tức huyện nam đàn và xã Xuân Liễu, quê của cụ Phan Bội Châu
2. Như thế này
3. Trời đất.
|