Chủ nhật, 17/05/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Bài mới trên phattuvietnam.net E-mail
28/09/2008

Những dấu hỏi quanh tháp Bình Sơn

Xem hình

Được sự quan tâm của Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch cùng UBND tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 11-8-2008, Ban quản lý chùa Vĩnh Khánh thuộc thôn Bình Sơn, xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã khởi công xây dựng chính điện.



Được biết, công trình trùng tu chánh điện chùa Vĩnh Khánh nằm trong Dự án tu bổ, tôn tạo Di tích Bình Sơn. Qua đây, chúng tôi thấy một vài vấn đề cần đặt ra trong đợt tu bổ, tôn tạo này...

Tháp Bình Sơn, còn gọi là tháp chùa Vĩnh Khánh hay tháp Then là một di  sản kiến trúc độc đáo đời Trần còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Tháp Bình Sơn cách Hà Nội khoảng 90 cây số. Đặc điểm của ngôi tháp này là màu gạch luôn tươi mới, gần như không hề đóng rêu (hình 1).

Hình 1

Tương truyền ngôi tháp có 15 tầng nhưng nay chỉ còn 11 tầng. Tháp cao 16 mét, lòng tháp rỗng. Bệ tháp hình vuông, mỗi cạnh dài 4,45 mét thu nhỏ dần lên đỉnh, tầng trên cùng mỗi cạnh dài 1,55 mét.

Tháp Bình Sơn được xây bằng gạch nung già, màu đỏ sậm. Dấu vết hoa văn trang trí trên thân tháp hiện còn là những họa tiết hoa cúc, cánh sen, cánh đề, sư tử hí cầu, rồng chạm nổi...

Trải qua nhiều thế kỷ mưa nắng dãi dầu, lại thường bị lũ lụt tràn về tàn phá, đã có lúc tháp bị nghiêng lệch và sụt lở.

Điều đáng ghi nhận là vào đầu thập niên 1970, mặc dầu trong hoàn cảnh chiến tranh, Bộ Văn hóa Thông tin kết hợp cùng Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phú đã chỉ đạo và phối hợp với nhiều ban ngành như: Xưởng phục chế di tích của Bộ Văn hóa, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương, Hợp tác xã cao cấp gốm sành Hương Canh cùng các nghệ nhân bỏ nhiều công sức để phục dựng, cứu vãn ngôi tháp tồn tại đến ngày nay.

Trong các lần trùng tu, mặc dầu đã chọn đất rất kỹ, chọn phương pháp nung tối ưu nhưng chất lượng gạch mới vẫn không thể sánh với gạch nung nguyên thủy của tháp nên đã bị rêu đóng.

Vì sao tháp Bình Sơn mất đi mấy tầng?

Ngoài ý kiến cho rằng những tầng chóp ở trên cùng bị hư hại do thời gian và thiên nhiên tàn phá, quan sát phía trong ruột tháp, chúng tôi thấy từ "ô cửa" thứ nhất (hình 2) trở xuống là nền, còn từ đó trở lên đỉnh tháp vẫn trống rỗng.

Hình 2

Phải chăng ban đầu, phía dưới tháp vẫn rỗng bên trong, nhưng sau nhiều cơn sụt lở, tháp đã bị bào mòn phía chân, có lúc đã bị nghiêng. Để giữ cho tháp đứng vững, người ta đã đắp bồi cả trong lẫn ngoài phần gốc của thân tháp (dáng dấp bệ tháp cũng khác nhiều với phần trên). Điều đó đã góp phần khiến cho tháp hiện nay mất đi mấy tầng?

Có người đã "sáng kiến" làm thang bằng 4 cọng thép bên trong lòng tháp cho du khách muốn chinh phục ngọn tháp leo lên. Muốn "chinh phục" ngôi tháp phải leo lên "ô cửa" rồi chui vào lòng tháp, dùng tay níu cọng thép, chân đạp vào tường tháp như vận động viên leo núi!

Đây quả là một "sáng kiến" nguy hại đến tính mạng và góp phần làm hư hoại ngôi bảo tháp. Hiện ban quản lý di tích và các cơ quan chức năng vẫn chưa có quy định rõ ràng nào để ngăn chặn việc "chinh phục" tháp nhằm bảo tồn ngôi tháp quý giá này?

Giếng nước hay ngôi mộ?

Gần tháp có một vũng nước được bao bọc bằng bờ gạch, mà người ta thường gọi là giếng (hình 3). Tương truyền đất của giếng là một ngôi tháp, được gọi là tháp Xanh. Một hôm, ngôi tháp biến mất, còn lại miệng giếng như hiện nay?

Hình 3

Thông thường nếu là giếng thì miệng giếng phải tròn đều, đằng này miệng giếng hình hơi thuẫn (đường kính dài khoảng 4 mét và đường kính ngắn khoảng 3 mét). Còn nếu là tháp thì chân tháp cũng phải hình vuông hay hình chữ nhật, nền móng phải có độ dày. Phải chăng cái giếng là một ngôi mộ cổ đã được bốc dỡ?

Ngoài ra, trước chánh điện chùa Vĩnh Khánh (giữa ngôi tháp và giếng) có một cây sứ khá đẹp, tương truyền cây sứ đó đã trên 500 năm tuổi. Cần xác định niên đại, nếu quả thật cây sứ ấy trên 500 năm thì thật quý giá, cần phải bảo tồn.

Đại đức Thích Kiến Nguyệt, Trưởng ban Văn hóa Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Vĩnh Phúc, Trưởng ban Hưng công Thiền phái Trúc Lâm được Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (chủ đầu tư) đề cử thi công Dự án tu bổ, tôn tạo di tích Bình Sơn cho biết:

"Tôi được biết tháp Bình Sơn là một trong 5 tháp quý có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo, đó là tháp Báo Thiên (Hà Nội), tháp Tường Long (Hải Phòng), tháp Phổ Minh (Nam Định), tháp Báo Ân và tháp Bình Sơn. Trong đó, tháp Bình Sơn có hoa văn khác hẳn, kiến trúc không hẳn của Chàm, có pha lẫn nét Ấn Độ. Đây là vấn đề cần nghiên cứu kỹ để Phật tử hiểu biết thêm về nét văn hóa đời Trần".

Được biết, tháp Bình Sơn nằm trong tuyến du lịch tâm linh tham quan thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (chỉ cách thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên khoảng 20 cây số). Vì thế, ngôi tháp cổ Bình Sơn cần được bảo tồn, nghiên cứu bài bản để giới thiệu cho du khách, nhất là du khách Phật giáo.

Tâm Vương (Theo Giác Ngộ online)

 

 

Jonny Wilkinson: Phật giáo và Vật lý - con đường đưa đến hạnh phúc

[20.09.2008 01:29]
Xem hình

Jonny Wilkinson tiết lộ vật lý lượng tử và Phật giáo đã giúp anh giải phóng mình khỏi nỗi sợ khủng khiếp  về sự thất bại ra sao. Vì nỗi sợ này mà anh đã không thể tìm được niềm vui của thành công  trong sự nghiệp bóng bầu dục của mình.



Trong cuốn sách mới, ngôi sao bóng bầu dục khoác áo số 10,  người nổi tiếng do sự tận tâm luyện tập như bị  ám của mình, mô tả sự cầu tòan  đã làm anh mất hạnh phúc ra sao ngay cả sau khi cú đá quyết định của anh trong trận chung kết tranh cúp thế giới 2003 tại Anh được công nhận hệt như là một chiến thắng trong truyện thần tiên.

Wilkinson phát biểu trên tờ The Times ra ngày thứ sáu trong một cuộc phỏng vấn để quảng cáo cho cuốn sách Tackling Life  (Khắc phục cuộc sống) của anh: "Tôi đã không biết hạnh phúc thực sự có nghĩa là gì. Một nỗi sợ hãi khủng khiếp về sự thất bại làm tôi đau khổ và  tôi không biết làm thế nào để giải thoát mình ra khỏi nỗi sợ hãi đó."

Chỉ trong vòng 24 giờ đồng hồ sau khi lập được bàn thắng nổi tiếng đó,  Wilkinson bị cảm giác sợ không còn được đứng trên đỉnh chiến thắng hạ gục. Anh hồi tưởng: "Tôi cảm thấy như mình bị xô ngã khỏi sự kiểm soát."

Bốn năm bị các chấn thương hành hạ tiếp theo và chính thời gian rời xa những trận đấu bóng bầu dục đã giúp anh tìm ra căn nguyên của tâm trạng phiền muộn mà anh hiện nay tin là bắt nguồn từ một nỗi sợ sâu xa về cái chết.

Anh đã ngộ ra sau khi đọc cuốn sách về cuộc thí nghiệm nổi tiếng trong vật lý lượng tử gọi là Con mèo của Schrodinger.

Wilkinson giải thích: "Tòan bộ cuốn sách tập trung vào ý tưởng rằng một người có thể thay đổi thế giới bằng cách quan sát một vật gì đó, cái ý tưởng rằng tâm và thực tại bằng cách nào đó có sự liên hệ với nhau. Thật khó giải thích bằng lời nhưng tôi giống như bị đụng phải bởi một chiếc xe lửa bằng hơi nước vậy."

Anh nói tiếp: "Tôi từ đó hiểu ra rằng tôi đã sống một cuộc sống do chính  tôi đã phác họa ra một cách tiêu cực cho mình. Tôi đã đắm chìm trong nỗi sợ rằng tôi không thể đạt được các mục tiêu của bản thân và bỏ thời gian để tự dày vò về những lỗi lầm mà mình đã mắc phải. Vật lý lượng tử giúp tôi thấy rằng tôi đang tự tạo cho mình một thực tại sẽ hủy hoại  và tất cả những gì mà tôi cần làm là thay đổi đường lối mà tôi chọn để cảm nhận thế giới."

"Tôi không thích các nhãn hiệu tôn giáo, nhưng có một sự liên quan giữa vật lý lượng tử và Phật giáo là tôn giáo mà tôi đang theo. Thất bại về một cái gì đó là một chuyện, nhưng Phật giáo dạy chúng ta rằng việc đó  tùy thuộc vào việc chúng ta giải thích sự thất bại đó như thế nào."

Wilkinson xuất hiện trước câu lạc bộ Newcastle của mình vào cuối tuần với mái tóc thể thao dài chấm vai và anh ta nói rằng ngoại hình mới của anh có liên quan tớ sự chuyển hóa tinh thần mà anh đã trãi qua

"Kiểu tóc mới thể hiện con người mới của tôi, nhưng nếu tôi có quyết định cắt tóc ngắn xin các bạn cũng đừng cho là tôi đã quay trở lại với đời  sống cũ của mình."

Wilkinson nói rằng Phật giáo với các khái niệm về nghiệp và tái sinh đã giải phóng anh khỏi cả hai nỗi sợ chết và sống mà không có bóng bầu dục. "Phật giáo giúp tôi khả năng hiểu rằng bóng bầu dục, giống như cuộc sống, rồi sẽ kết thúc."

"Động lực của tôi hiện nay chẳng dính dáng gì đến địa vị, tiền bạc hoặc bản ngã. Trước khi tôi muốn mình là một người giỏi nhất trên thế giới tôi cần phải nhìn những cầu thủ khác chơi để có thể đánh giá chính mình. 

Bây giờ nếu tôi có lập được thành tích nào trong các trận đấu bóng bầu dục thì không phải là vì tôi giỏi hơn những người cầu thủ khác nhưng chỉ  là để thăm dò tài năng của tôi. Sự hòan thành thi đấu của tôi không còn là sự mong muốn được làm vừa  lòng bản thân của mình nữa  mà chỉ là do muốn được thấy sự hạnh phúc của những người khác."

Quảng Hiền (dịch)

 

Rùa và Cá

[19.09.2008 23:33]
Xem hình

Tri thức thì vô cùng mà hiểu biết của chúng ta thì hạn hẹp. Trí tuệ vô ngã của bậc giác ngộ thì vô hạn mà tư duy hữu ngã của phàm phu thì giới hạn. Vì thế để hiểu, cảm thông và chia sẻ kinh nghiệm cũng như truyền trao tuệ giác cho nhau cũng không phải dễ dàng.



Thuở xưa có con cá sống dưới hồ nước cùng với con  rùa. Một hôm rùa dạo  chơi trên mặt đất trở về, gặp cá liền kể:

- Mấy hôm rày tôi đi một vòng trên đất khô.

- Đất khô à, cá lấy làm ngạc nhiên. Bạn nói đất khô, vậy đất khô là gì? Đất mà làm sao khô được? Tôi chưa khi nào thấy bùn đất mà khô cả.

Bẩm tính ôn hòa, rùa nhỏ nhẹ đáp:

- Bạn nghĩ như vậy cũng tốt. Nhưng kỳ thực, những nơi mà tôi đi qua mấy hôm rày là mặt đất khô khan.

- Này bạn rùa, bạn nói rõ lại coi. Đất khô mà bạn nói ra làm sao, giống như cái gì? Nó có ẩm ướt không?

- Không.

- Đất khô có mát mẻ, êm dịu và dễ chịu không?

- Không.

- Đất khô có trong suốt và ánh sáng có rọi xuyên qua được không?

- Không.

- Đất khô có mềm mại để mình bơi lội trong ấy không?

- Không.

- Đất có di chuyển và trôi chảy thành dòng không?

- Không.

Cá rất bực mình với loạt trả lời không, không của rùa nhưng vẫn gặng hỏi.

- Đất có nổi sóng và tan ra thành bọt không?

- Không. Rùa thành thật trả lời.

Cá bỗng nhiên cười lớn, lộ vẻ hân hoan của người thắng cuộc.

- Tôi đã bảo rằng đất khô của bạn chỉ là hư vô, không có gì hết. Tôi hỏi và bạn đã xác nhận rằng đất khô là không. Không phải là gì hết thì là hư vô chứ còn gì.

- Được, rùa đáp, tốt lắm. Này bạn cá, nếu bạn quả quyết rằng đất khô là hư vô, không có gì hết thì cứ tiếp tục nghĩ như thế. Thực ra, ai đã biết nước và đất liền rồi thì chắc chắn sẽ chê bạn là con cá dại dột, vì quả quyết rằng những gì mà mình không biết là hư vô, là không có gì hết.

(Theo Truyện cổ Phật giáo)

BÀI HỌC ĐẠO LÝ:

Tri thức thì vô cùng mà hiểu biết của chúng ta thì hạn hẹp. Trí tuệ vô ngã của bậc giác ngộ thì vô hạn mà tư duy hữu ngã của phàm phu thì giới hạn. Vì thế để hiểu, cảm thông và chia sẻ kinh nghiệm cũng như truyền trao tuệ giác cho nhau cũng không phải dễ dàng. Đó cũng là lý do vì sao trong một vài trường hợp Thế Tôn im lặng không trả lời và Lão Tử, bậc Thánh triết Trung Hoa cũng lạnh lùng "tri giả bất ngôn”.

Người biết thì không nói. Vì sao? Vì nói ra chắc cũng trớ trêu như chuyện rùa với cá. Toàn bộ tri thức và kinh nghiệm của cá chỉ từ mặt nước trở xuống đáy hồ thì làm sao cá có thể khái niệm được chuyện trên hồ. Cái thấy biết của cá cũng không hơn ếch ngồi đáy giếng là bao, ấy vậy mà cá còn dương dương tự đắc chế giễu rùa là khoác lác, thậm chí là “mê tín dị đoan” nữa cũng không chừng.

Khoa học hiện đại đã vén lên rất nhiều bức màn bí mật của thế giới tự nhiên. Nhân loại ngày nay sẽ không ngạc nhiên khi nghe kinh Phật nói "trong một bát nước có vô số vi trùng” hoặc "có vô số tinh cầu và thế giới trong vũ trụ bao la này”.

Lại nữa, trạng thái vừa sóng vừa hạt của hạt quark mà ngành Vật lý Lượng tử phát hiện gần đây phải chăng là một cách trình bày khác của "sắc tức thị không” trong tuệ giác Bát Nhã. Thế nhưng những tuệ giác này được mấy ai thấu hiểu và sẻ chia khi Phật Thích Ca tuyên bố từ rất xa xưa.

Đó là chưa đề cập đến vấn đề tâm linh khi buông xuống gánh nặng tri thức, lắng đọng tất cả suy tư, xả ly tất cả tham ái để tham thiền nhập định thâm sâu đến khai ngộ, tuệ giác bùng vỡ siêu việt tất cả các phạm trù tương đãi nhị nguyên.

Với tâm thái của bậc giác ngộ,  vượt lên tất cả sự thấy biết thông thường thì chúng ta không thể nào đem cái "tình phàm” hạn hẹp của mình để "lượng Thánh”. Và nhất là, càng không nên dựa vào uy quyền hay sự đồng thuận của số đông hoặc trong khi chờ kết quả đong đếm của khoa học mà vội vàng lên án, phủ nhận, kết tội những gì mình không thấy, không biết là không có, hư vô.

Do vậy, thận trọng với những gì mình chưa hiểu biết trọn vẹn để tránh sự quy kết vội vàng là một thái độ khoa học và văn minh cần có trong các ứng xử hàng ngày. Nhất là trong lĩnh vực tâm linh thì càng nên thận trọng hơn. Bởi khi chưa giác ngộ hoàn toàn thì chúng ta chỉ là những "người mù sờ voi” hay như con cá tội nghiệp kia chỉ biết từ mặt nước trở xuống mà thôi.

Thường Tâm (Theo Giác Ngộ online)

 

Đất chùa Báo Thiên (cũ) dùng xây công viên (cập nhật ý kiến độc giả)

[19.09.2008 10:40]
Xem hình
Quy hoạch công viên văn hóa 42 Nhà Chung

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội đã giao Sở Quy hoạch kiến trúc chủ trì, phối hợp với UBND quận Hoàn Kiếm lập quy hoạch tổng mặt bằng khu Công viên cây xanh - Thư viện phục vụ cộng đồng dân cư tại khu đất 42 Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.

Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội đã tổ chức lập và phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng dự án tại khu đất nói trên với các nội dung chủ yếu như sau: Chỉnh trang tu bổ công trình kiến trúc 3 tầng hiện có trên khu đất làm thư viện phục vụ nhân dân trong khu vực.

Toàn bộ khuôn viên còn lại của khu đất được xây dựng thành vườn hoa, sân chơi, tiểu cảnh, đường dạo phù hợp với cảnh quan xung quanh. Các cây xanh lâu năm hiện có được giữ lại kết hợp với thiết kế cảnh quan gồm các tiểu cảnh, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ trong công viên.

Được biết, khu đất 42 Nhà Chung và khu vực xung quanh, bao gồm cả nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay, nguyên trước đây là khu đất chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng được xây dựng từ thời Lý. Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, giám mục Puginier dùng thủ đoạn cấu kết với tay sai cho phá chùa Báo Thiên, xây nhà thờ Lớn, một phần đất còn lại được dùng để xây Tòa khâm sứ (tòa đại sứ của Vatican) và cơ sở khác của Giáo hội Công giáo.

Khu vực chùa và tháp Báo Thiên cũ được ước đoán theo các tư liệu lịch sử. Có thể chính điện của Chùa nằm trên nền đất nay là Nhà thờ Lớn và Tòa Tổng giám mục Hà Nội; Tháp Báo Thiên tọa lạc trên khoảng đất thuộc khu vực Tòa khâm sứ cũ. Khuôn viên vườn chùa (Thời Lý - Trần - Lê) kéo dài đến qua khu Chủng viện, Dòng mến Thánh giá ra sát Hồ Gươm.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước giành được độc lập, đại sứ Vatican dời Hà Nội (vì Vatican không công nhận nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa), Nhà nước đã quốc hữu hóa khu đất và dùng để làm Nhà văn hóa quận Hoàn Kiếm.

Cuối tháng 12/2007, Tổng giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt xách động giáo dân thắp nến cầu nguyện, phá cổng, bê tượng và thánh giá vào khu đất 42 Nhà Chung để làm áp lực đòi đất, đòi "công lý". Mặc dù Chính quyền nhiều lần yêu cầu Giáo phận Hà Nội chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, nhưng sự việc chỉ chấm dứt khi Vatican gửi thư yêu cầu.

Cập nhật ý kiến độc giả

Nhóm Phật tử trẻ Sen Việt - TP. Hồ Chí Minh ( Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ) Chúng tôi vô cùng vui mừng khi biết tin khu đất "Tòa Khâm sứ" (đất chùa Báo Thiên) đã được quy hoạch để trở thành công viên, thư viện, phục vu lợi ích chung cho cộng đồng dân cư. Đây là một quyết định sáng suốt của Chính phủ trước những hành vi "đòi đất" vi phạm pháp luật của một bộ phận giáo dân.

Đúng như lời dạy của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam: "Người Phật tử chúng tôi quan niệm, đất đai là của Quốc gia, chùa tháp là của làng - thập phương tín thí xây đắp, người tu hành mượn cảnh Bụt để mà tu thôi. Ngày xưa có câu "đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt" là vì thế. Chứa chấp, tích lũy tài sản thế gian thực là không hay đối với Phật giáo. Tài sản thật sự mà Phật tử cần phải có, phải giữ đó là Phật Tâm.

Ngày nay, ở đâu đó, Nhà nước có cấp cho Giáo hội Phật giáo vài mảnh đất để xây cất Thiền viện, chùa tháp thì đất đó vẫn là công thổ quốc gia, nếu Nhà nước cần thu hồi vì ích quốc lợi dân, thì chúng tôi tin chắc là Giáo hội sẽ trả lại nhanh chóng, chẳng cần có ý kiến gì. Các công trình xây dựng thì cũng là tài sản của Quốc gia, của nhân dân, phục vụ tất cả nhân dân, chứ chẳng phải sở hữu tư hữu. Nếu Phật giáo có đứng ra tổ chức sự kiện gì đó thì đề nghị Nhà nước và nhân dân chung sức, chung lòng giúp đỡ. Nhà nước và nhân dân ủng hộ nhiều thì làm to. Do còn khó khăn, túng thiếu mà ủng hộ ít thì làm tùng tiệm thôi. Thời nào cũng thế. Ngày nay chúng tôi tin là, với các Phật sự ích nước lợi dân, Nhà nước và nhân dân sẽ ủng hộ. Với các hoạt động ích nước, lợi dân của các tôn giáo bạn, chúng tôi tin chắc là nhà nước cũng sẽ ứng xử bình đẳng như thế".

Nhóm Sen Việt có một kiến nghị đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nếu có điều kiện, Phật giáo nên nghiên cứu mô hình chùa Báo Thiên xưa để phục dựng ở một địa điểm thích hợp. Chùa Báo Thiên, một trong "An Nam Tứ Khí" của dân tộc xứng đáng được đối xử như vậy. Được biết chùa Báo Thiên xưa có lễ hội Báo Thiên rất lớn, đồng thời là mảnh đất được chọn làm nơi cầu mưa, cầu quốc thái dân an. Giáo hội nên tiến hành làm và nêu rõ ý nghĩa mục đích của việc phục dựng chùa, cung cấp đầy đủ tư liệu, hình ảnh, sử liệu, để người Phật tử ý thức nhiều hơn về di sản của dân tộc mình.

Tran Tien - Australia ( Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ) Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt cho người hô hoán đòi đất Tòa Khâm sứ cũ, tưởng khu đất này là của Chúa trời người Trung Đông, qua tay thực dân Pháp và tay sai bán nước cướp đất chùa Báo Thiên giao cho. Nay Chính phủ thu hồi để tạo lợi ích công cộng là điều phù hợp với ý nguyện của người dân. Nhưng để công trình phù hợp, hài hòa với hình ảnh Hà Nội, tôi đề nghị (1) Tòa nhà khâm sứ cũ cần phải thay đổi mặt tiền theo văn hóa Á Đông, văn hóa truyền thống Việt Nam. (2) Nhà nước cần cung cấp cho GHPGVN một khu đất để cho Phật giáo xây một nhà triển lãm hay khu sinh hoạt Văn hóa dưới mô hình chùa và tháp Báo Thiên cũ. 

Nguyen Khac Huy - TP. Hồ Chí Minh ( Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ) Ủng hộ quyết định biến tòa khâm sứ cũ thành vườn hoa phục vụ lợi ích cộng đồng của chính quyền. Không hiểu giáo dân Hà thành cầu nguyện gì ở nơi mà cha đạo Puginier cấu kết với tay sai cho phá chùa Báo Thiên?

Vũ Trọng Hóa - Hà Nội ( Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó )'; document.write( '' ); document.write( addy_text63398 ); document.write( '<\/a>' ); //-->\n Địa chỉ thư điện tử này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ) Đất chùa Báo Thiên cũ, đã bị cố đạo hiệp với tay sai chiếm xây nhà thờ lớn, rồi đại sứ Vatican để điều khiển con chiên người Việt. Cách mạng đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, thu hồi đất đai về cho dân tộc. Tòa khâm sứ, biểu tượng một thời của giáo sĩ Công giáo nước ngoài lũng đoạn nước ta đã bị thu hồi, sử dụng vì mục đích công ích. Nay ông Kiệt tiếp nối bản chất của Giám mục Puginier, kích động con chiên đòi đất về cho Chúa. Ngẫm mới thấy đau cho một con dân Việt Nam, đau cho truyền thống gần 4000 năm dựng nước và giữ nước. Một người con, nay khoác áo đen, bản chất là con Lạc cháu Hồng, nay đổi sang con chúa cháu chúa, muốn đất của nước Chúa, chứ không phải đất của người Việt Nam. Trong khi Phật giáo: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt, tức là đất là công thổ, là của chung dân tộc, chùa là của người dân trong làng, chỉ mượn phong cảnh Bụt để tu thân tích đức, thì ông Kiệt lại muốn tất cả phải thuộc về chúa, nước chúa.

 

HT. Thích Chơn Thiện: "Tô bồi đời sống tâm linh và nguồn mạch văn hóa Việt cho bà con xa xứ"

[19.09.2008 08:27]
Xem hình

Từ ngày 20-8 đến 10-9-2008, Giáo hội đã thực hiện chuyến hoằng pháp qua 6 nước châu Âu với sự tham gia của 24 thành viên thuộc Ban Thường trực HĐTS, các Ban Giáo dục Tăng Ni, Hoằng pháp, Phật giáo Quốc tế, Kinh tế-Tài chính do HT.Thích Chơn Thiện – Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS làm trưởng đoàn. Mặc dù đang bộn bề công việc, Hòa thượng đã có cuộc trao đổi về chuyến đi.



- Xin Hòa thương cho biết, những hoạt động chính của đoàn Giáo hội qua 6 nước châu Âu vừa qua gồm những gì?

Đây là chuyến đi hoằng pháp với quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Chúng tôi đã đến thăm cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại nói chung và cộng đồng Phật tử Việt Nam nói riêng nhằm chia sẻ tình cảm, tình đồng bào, tình dân tộc. Mỗi nơi đến, chúng tôi đã làm lễ Vu lan, thuyết giảng về Vu lan và tổ chức lễ cài hoa hồng nhân mùa Báo hiếu theo truyền thống của dân tộc, chúng tôi đã làm lễ cầu an - cầu siêu cho bà con ở sở tại. Kế đến là thăm các Đại sứ quán Việt Nam. Qua đó, lắng nghe những gợi ý từ các Đại sứ quán về công tác Phật giáo ở nước ngoài. Chúng tôi đã thăm và làm việc với bà Bộ trưởng Bộ giáo dục Tiệp Khắc (ở Tiệp khắc, Bộ trưởng Bộ Giáo dục được phân công phụ trách tôn giáo - NV) để liên hệ mua, ổn định đất đai và xây chùa. Ngoài ra, cũng có những công việc khác như: lắng nghe các yêu cầu của bà con bao gồm cả những yêu cầu không thuần túy tôn giáo, để từ đó làm cầu nối giúp và liên hệ với các cơ quan bên nhà khi cần thiết cũng như đề xuất Giáo hội có những quyết sách cho hoạt động hoằng pháp sau này.

Chúng tôi đã được kiều bào, Phật tử VN đón tiếp rất niềm nở, chân tình và trọng thị. Có cả những đoàn Phật tử sang tận Pháp, đón và đưa chúng tôi về Tiệp Khắc rồi sang cả Ba Lan. Đáp lại, chúng tôi cũng rất chân tình và thể hiện một tình cảm quê hương sâu đậm.

-Giáo hội đã đặt ra những mục tiêu nào cho chuyến đi đã đạt được?

Mục tiêu lớn nhất của của chuyến đi là để nói cho đồng bào trong và ngoài nước biết, thật sự Giáo hội rất quan tâm đến cộng đồng Việt Nam trong nước cũng như cộng đồng Phật tử Việt Nam ngoài nước. Chuyến đi này là thể hiện rất cụ thể sự quan tâm đó. Ngay từ thế kỷ thứ II, ngài Khương Tăng Hội đã sang tận Trung Quôc thuyết giảng. Sau này, cũng có các chuyến đi ra nước ngoài hoằng pháp của các bậc tôn túc khác nữa. Từ khi thống nhất Phật giáo, Giáo hội tiếp tục thực hiện công tác hoằng pháp nước ngoài nhưng tương đối rời rạc từng ban ngành khác nhau và chủ yếu để nói rõ quan điểm của Giáo hội là chính, chưa có sự chuẩn bị, kết hợp một cách công phu như chuyến đi này.

Một mục tiêu nữa cũng cần phải đề cập là chia sẻ và khơi dậy trong bà con kiều bào các giá trị văn hóa dân tộc, trong đó văn hóa Phật giáo đóng vai trò rất lớn. Để từ đó bà con xa xứ gần với dân tộc hơn mà có những đóng góp tích cực về sau này. Chính vì thế mà các buổi lễ Vu lan Báo hiếu, các thời giảng về ý nghĩa đạo Hiếu được chúng tôi lưu tâm hết mực trong suốt chuyến đi. Dù ở cuơng vị nào, đối với người Việt Nam, đạo Hiếu vẫn là linh hồn trong nếp sống và trong tương quan các giá trị văn hóa dân tộc.

Sau mỗi trạm dừng chân, đoàn đều họp lại, thảo luận nội bộ và đưa ra những nhận xét đánh giá về những việc làm được, chưa làm được. Ai cũng hoan hỷ cho rằng các mục tiêu ban đầu đề ra đều đạt được. Như đã nói, chúng tôi được tiếp đón rất niềm nở và khi chia tay thì vô cùng quyến luyến. Đặc biệt, các vị Đại sứ cũng dành cho chúng tôi những tình cảm hết sức chân thành, họ đã đích thân đưa tiễn tận phi trường, nhà ga xe lửa. Các vị ấy cũng cảm ơn những việc làm của đoàn vì họ biết những nhu câu tâm linh có thật của bà con nhưng họ không thể đáp ứng đươc.

-Sau khi đi qua 6 nước châu Âu và có những cuộc tiếp xúc, với tư cách là Trưởng đoàn, Hòa thượng có nhận xét như thế nào về tình hình sinh hoạt và tu học của đồng bào Phật tử hải ngoại?

Đôi với bà con Việt kiều, trước kia cuộc sống kinh tế có phần khó khăn vì những hạn chế trong kinh doanh, mua bán so với người dân bản địa. Tuy nhiên thời điểm mà chúng tôi qua thì cuộc sống khá hơn nhiều, rất khá nữa là khác. Chúng ta cũng có những trung thương mại của người Việt tương đối phát triển. Một khi điều kiện kinh tế ổn định thì vấn đề quan tâm lớn nhất của bà con là tâm linh. Đó là lý do vì sao cần sự hiện diện của Giáo hội. Chính cộng đồng người Việt đã tự phát tâm góp tiền mua đất để xây chùa. Kiến trúc của những ngôi chùa ấy hoàn toàn Việt Nam, vật liệu mang từ Việt Nam, tượng Phật cũng thỉnh từ Việt Nam.

Thành phần người Việt bên ấy đa phần là doanh nghiệp và trí thức, họ nghiên cứu giáo lý Phật giáo rất sâu sắc nên chúng ta chỉ cần khai mở là họ có thể thông hiểu. Có một số nơi đã có chùa rất bề thế như Ucraina. Bà con thường đến chùa vào ngày cuối tuần và ngày nghỉ lễ đặc biệt. Đấy chính là điểm lưu ý để sau này chúng ta lưu tâm tổ chức tu học cho bà con phù hợp.

Hiện tại vẫn chưa có chư Tăng thường trú bên ấy để hướng dẫn bà con mà chỉ qua trong một thời gian ngắn rồi về. Nhu cầu cần có sự hiện diện của chư Tăng một cách thường xuyên là một nhu cầu có thật. Qua đó cũng cho thấy sự khát ngưỡng giáo pháp luôn hiện diện mãnh liệt trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi vị kiều bào.

- Đoàn sẽ kiến nghị những gì lên Giáo hội về các kế hoạch lâu dài đối với kiều bào Phật tử và các hoạt động Phật sự ở nước ngoài?

Giáo hội sẽ phải có trách nhiệm săn sóc đời sống tâm linh cho bà con Việt kiều. Tuy nhiên, chúng tôi tham khảo ý kiến của Giáo hội, của các vị đại sứ, nghiên cứu quy định pháp luật, chính sách đối ngoại các nước sở tại cũng như xem xét những nhu cầu của cộng đồng kiều bào.

Trước mắt, Giáo hội đã có chuyên đi đầu tiên thì chắc chắn sẽ có những chuyến đi tiếp theo. Về sau này, mỗi chuyến đi như thế cần có sự chuẩn bị thật kỹ lưỡng mọi vấn đề, tránh cơ cấu đầy đủ vùng miền vì chúng ta còn nhiều chuyến đi khác. Thành phần tham gia đoàn phải đáp ứng được yêu cầu về nghi lễ và thuyết giảng theo kiểu đối thoại, thảo luận. Chúng ta cũng nên kết hợp cả các hoạt động xã hội để nâng cao vị thế của Giáo hội và tạo cảm tình với chính quyền bản xứ. Về lâu về dài, Giáo hội nên công cử hẳn nhân sự thường trú bên ấy để đáp ứng những nhu cầu tu học của bà con.  Sứ mạng của chúng ta là phuc vụ tất cả. Ở đâu có nhu cầu, ở đó Giáo hội phải có trách nhiệm.

-Xin chân thành cảm ơn Hòa thượng!

Gia Trúc (thực hiện) (Theo Giác Ngộ online)

Ý chí và hành động trong Phật giáo

[18.09.2008 22:41]
Xem hình

Tiến trình hoạt động của một con người thường được đánh dấu bằng sự khởi đầu của ý thức. (Ở đây, từ ngữ “ý thức” bao hàm tất cả các tri giác thuộc về mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.)



Khi một ý thức như thế sinh khởi sẽ kèm theo một số hoạt động khác của tâm như cảm thọ, khái niệm, ý chí, v.v...; trong đó ý chí hay cetana, theo thuật ngữ Phật giáo Ấn Độ, là nguồn gốc của ba loại hoạt động của ý, ngữ và thân.

Chẳng hạn, khi chúng ta biết rằng chúng ta đang nhìn thấy một cái gì đó thì đồng thời trong chúng ta sẽ sinh khởi một cảm nhận, một ý tưởng, v.v..., và sau cùng là ý muốn thực hiện một hành động có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tượng đó.

Trong văn học Phật giáo có những mô tả chi tiết khác nhau về tiến trình này; tuy nhiên, nhìn chung tất cả đều đồng ý: Nếu không có ý thức về một đối tượng bên ngoài hoặc bên trong thì sẽ không có ý muốn thực hiện hành động.

Từ đó, chúng ta rút ra được kết luận đầu tiên là ba loại hoạt động điển hình nói trên của con người đều có liên quan đến ý thức và đều xuất phát từ trạng thái tâm gọi là cetana này.

Luận Thành Duy Thức mô tả tiến trình vận hành của cetana qua ba giai đoạn: thẩm lự, quyết định và phát động. Hai giai đoạn đầu kích khởi hoạt động thuộc về ý (ý nghiệp), giai đoạn còn lại kích khởi hoạt động thuộc về lời nói (ngữ nghiệp) và việc làm (thân nghiệp).

Từ đó, chúng ta có thêm một kết luận khác: nếu hoạt động của cetana kết thúc với giai đoạn hai thì mặc dù ngữ nghiệp và thân nghiệp chưa được biểu hiện nhưng ý nghiệp đã được lập thành.

Hai kết luận trên có thể dùng làm tiền đề thiết lập một nhận thức mới trong sinh hoạt thường nhật của một Phật tử.

- Thứ nhất, khi toàn bộ vận hành của cetana đều tùy thuộc vào sự xuất hiện đầu tiên của ý thức về một đối tượng thì chúng ta có thể gián tiếp điều động sự vận hành của nó theo một chiều hướng thuận lợi bằng cách trực tiếp chọn lựa các điều kiện sinh khởi của ý thức.

Nói cách khác, nếu hạn chế sự tiếp xúc với những đối tượng có tác động xấu, chúng ta sẽ giảm được số lượng các trạng thái tâm xấu sinh khởi kèm theo ý thức về đối tượng đó.

Đây là một trong những ý nghĩa căn bản của một thuật ngữ khác trong Phật giáo là samatha (chỉ). Có nghĩa, chúng ta có thể tùy chọn các loại đối tượng của ý thức, tức những gì chúng ta nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay biết. Điều này hàm ý một nếp sống và một môi trường sống thuận lợi cho việc hạn chế các loại đối tượng không thuận lợi của ý thức.

- Thứ hai, khi cetana được xác định là động cơ chính kích khởi ba hoạt động của ý, ngữ và thân thì đối tượng được nhận thức không còn mang tính quyết định tuyệt đối.

Trái lại chúng ta có thể thay đổi tác động của nó theo cách chúng ta muốn nhờ vào tiến trình vận hành của cetana. Bởi vì một điều hiển nhiên là khi suy nghĩ thì chúng ta không chỉ suy nghĩ mà còn biết rằng mình đang suy nghĩ về cái gì đó. Đây là một trong những ý nghĩa căn bản của một thuật ngữ khác trong Phật giáo là vipaśyana (quán).

- Thứ ba, khi hai giai đoạn thẩm lự và quyết định của cetana là điều kiện kích khởi ý nghiệp thì mặc dù suy nghĩ của chúng ta chưa được biểu lộ bằng lời nói hay việc làm nhưng nó đã hình thành một loại nghiệp thiện hoặc bất thiện nào đó trong chúng ta.

Đây chính là nền tảng cho các nhận xét của chúng ta về giá trị đích thực của một hành động. Có nghĩa, trong trường hợp lời nói hoặc việc làm không phù hợp với ý nghĩ thì cái sau sẽ được chọn làm nền tảng chính cho một đánh giá đúng về một hành động chứ không phải hai cái trước.

Trên bình diện tuyệt đối, cứu cánh giải thoát trong Phật giáo được mô tả như một tình trạng xuất phát từ sự nhìn thấy tính chất thật sự, hay thực tướng của tất cả các đối tượng của nhận thức.

Khi đã nhìn thấy được bản chất đích thực của mọi hiện tượng vật lý cũng như tâm lý, Phật tử sẽ không còn bị trói buộc bởi chính những nhận thức sai lầm của mình về chúng.

Vì thế, có khi Phật tử được gợi ý là hãy "thu thúc lục căn" để có thể tập trung toàn bộ nỗ lực vào việc quán sát các hiện tượng vật lý và tâm lý đang xảy ra có liên quan đến các hoạt động của chính mình. Vì lẽ đó, ngoài việc tập chú vào các hoạt động của thân và tâm Phật tử không cần phải có những nỗ lực nào khác, ngay cả việc học hỏi hay đọc tụng kinh điển.

Đây là một sự tu tập lý tưởng vì nó có thể giúp hạn chế sự phân tán của tâm thức do tác động của nhiều đối tượng cùng lúc, đồng thời huy động được tất cả năng lực nội tại trong một khoảng thời gian nhất định nào đó; và vì thế nó cũng có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với không ít Phật tử, nhất là các Phật tử có khả năng quán sát cao.

Tuy nhiên, trong thực tế những nỗ lực theo hướng trên chỉ dành cho một số ít người “may mắn”; tức những người có đủ thời gian để theo đuổi những khóa tu đều đặn, dài ngày dưới sự dẫn dắt của một vị thầy có kinh nghiệm.

Vì thế, đối với hầu hết chúng ta - những người phải thực hiện sự tu tập của mình ngay trong việc mưu sinh hàng ngày - một sự thực hành như thế không bảo đảm một kết quả chắc chắn bởi vì cuộc sống của chúng ta hầu như không cho chúng ta các điều kiện cần và đủ; và vì sự vận hành của tâm thức chúng ta không đơn giản như chúng ta tưởng.

Theo các luận sư Abhidharma, nhận thức là một tiến trình phức tạp và luôn tiếp diễn trong tương quan với các trạng thái khác nhau của tâm thức. Khi chúng ta nhìn thấy cái gì đó và đồng thời biết rằng chúng ta đang nhìn thấy nó thì cái biết này chỉ xảy ra trong chính chúng ta.

Và vì đối tượng được nhìn thấy không thể “nhảy” vào trong đầu chúng ta cho nên những gì chúng ta “biết” về nó chỉ là một hình ảnh, một mô tả nào đó. Khi một hình ảnh như thế được ghi nhận thì các hoạt động khác của tâm thức sẽ lần lượt sinh khởi trong tương quan với hình ảnh này.

Chúng ta sẽ có một cảm nhận, một ý tưởng, một sự ưa thích hay chán ghét,v.v... nào đó sinh khởi kèm theo hình ảnh này; và rồi chúng ta sẽ tiếp tục có ý thức về chính những cảm giác, những tên gọi, những ý tưởng, những đam mê, v.v... này; và cứ như thế với sự sinh khởi kế tiếp của ý thức chúng ta lại tiếp tục có sự xuất hiện của các cảm giác, ý tưởng, tên gọi khác, v.v...

Như vậy, tiến trình hoạt động của tâm thức có thể được xem như một chuỗi tương tục các trạng thái tâm khác nhau và tác động lẫn nhau. Trong chuỗi vận hành này, một số hoạt động của tâm thường hay sinh khởi và vì thế chiếm một phần lớn đời sống tâm lý của chúng ta.

Đó là các cảm giác (vedana), ý tưởng (saṃjñā) và ý muốn (cetana). Khi nhìn thấy một cái gì đó mà chúng ta thích thì chúng ta sẽ có một cảm giác vui thú, chúng ta sẽ nghĩ nhiều về nó và muốn duy trì cảm giác đó; bởi vì chúng ta nghĩ những trạng thái như thế càng kéo dài bao nhiêu thì chúng ta sẽ được an lạc bấy nhiêu.

Nếu nhìn từ quan điểm của Phật giáo về toàn bộ cơ cấu tâm thức của một con người, thì đây có thể xem như một trạng thái bệnh hoạn. Phật giáo không tìm kiếm một sự an lạc đặt nền tảng trên các cảm giác; bởi vì, giống như tất cả các trạng thái tâm khác, nó không phải là một hoạt động độc lập và thường hằng.

Có nghĩa, vì sinh khởi kèm theo ý thức và chịu sự tác động của các trạng thái tâm khác cho nên không bao giờ chúng ta có thể duy trì cũng như đáp ứng được các đòi hỏi của cảm giác.

 Về các ý tưởng cũng thế. Chúng là những biểu tượng, những mô tả về một thực tại nào đó; thế nhưng chúng ta lại thường đồng nhất chúng với tự thân thực tại. Chẳng hạn khi được học về vô ngã, giải thoát, v.v..., chúng ta sẽ có một số kiến thức hay khái niệm nào đó về những điều này; và những khái niệm này chỉ là những chỉ dẫn về một thực tại có tên gọi là “vô ngã” hay “giải thoát” chứ không dính líu gì đến sự chấp ngã hay sự trói buộc bởi phiền não và vô minh của chúng ta cả.

Vì chỉ là những khái niệm cho nên chúng chỉ xuất hiện những khi chúng ta có ý thức về những gì tương tợ như thế. Cho dù chúng ta có tìm cách duy trì các loại ý tưởng như thế trong đầu thì đó cũng chỉ là một hình thức “tự kỷ ám thị” nào đó; bởi vì dù chúng có xuất hiện hay không thì sự chấp ngã và trói buộc của chúng ta vẫn liên tục vận hành theo cách của chúng.

Theo luận Câu Xá, có một trạng thái tâm thường xuyên vận hành và tác động đến các hoạt động khác của tâm thức, gọi là satkāyadṛṣṭi (hữu thân kiến), tức sự đeo bám của chúng ta đối với toàn bộ cơ cấu tồn tại của chính chúng ta.

Sự đeo bám này là một trạng thái tâm (saṃskāra) nằm ngoài tầm với của ý thức và âm thầm điều động xu hướng vận hành của tất cả các trạng thái tâm khác. Nó chính là cha đẻ của cái thường gọi là chấp ngã (ātmagrāha) và là nguồn gốc của mọi thứ phiền não.

Trong kinh Di Giáo, đức Phật đã ví trạng thái tâm này như loài rắn độc đang ẩn náu trong tâm chúng ta, như loài bò cạp đang ngủ yên trong nhà chúng ta.

Vì thế, đối với Phật giáo chừng nào chưa loại bỏ được một sự đeo bám như thế thì mọi tìm kiếm một sự an lạc nào đó bằng các cảm giác hoặc các ý tưởng chỉ là một hành động mù quáng bởi vì những hành động như thế chỉ tiếp tục nuôi dưỡng và tăng trưởng sự đeo bám này chứ không thể làm suy yếu hay dứt bỏ nó.

Với những gì được trình bày ở trên về cách thế tồn tại và vận hành của dòng tâm thức chúng ta, một vấn đề dần dần sáng tỏ ở đây: đó là nơi quy hướng mọi nỗ lực của chúng ta trong tiến trình đạt đến một sự chuyển đổi tâm thức toàn diện.

Thay vì mải mê tìm kiếm các cảm thọ hoặc náu mình trong các ảo tưởng chúng ta sẽ dồn mọi nỗ lực vào việc loại bỏ cái chướng ngại đang âm thầm điều động mọi hoạt động của tâm thức chúng ta bằng chính những hoạt động cụ thể của ý chí, ngôn ngữ và việc làm.

Khi một người Phật tử được đề nghị hãy nên bắt đầu đời sống đạo của mình bằng việc quy y Tam bảo thì đó không phải là sự nô lệ vào một thế lực tâm linh hay siêu hình nào đó. Nếu xét trên cơ cấu vận hành tâm thức của một con người bình thường thì hành động trên là biểu hiện tất yếu của một nhận thức đúng về chính mình và thế giới:

- Nếu thừa nhận duḥkha (khổ) là một phạm trù không chỉ bao hàm những gì thuộc về cảm giác mà còn chính là sự biến hoại và biến dịch thì chỉ có giáo pháp nhà Phật mới có thể giúp con người thoát khỏi cái khổ này.

- Giải thoát khỏi cái khổ như thế là hệ quả của một tiến trình chuyển hóa triệt để của tâm thức theo những đề nghị đặc thù của Phật giáo.

- Một tiến trình như thế không bao giờ có thể thực hiện chỉ bằng vào những nỗ lực đơn phương của một Phật tử trong cơ cấu tồn tại của một “thủ ngũ uẩn” như thế. Trái lại, đó là sự liên khởi giữa các nỗ lực của tự thân và những hỗ trợ của chư Phật, Chánh pháp và các vị Thánh tăng. 

Chỉ với sự liên kết chắc chắn như thế, Phật tử mới có thể bắt đầu đời sống tu tập chân chánh của mình bằng sự tấn công trực diện và bền bỉ vào chính sào huyệt của mọi phiền não và vô minh. Đối với Phật tử, đó là những nỗ lực đầu tiên thực hiện năm loại hành động cụ thể hay còn gọi là năm giới ngay trong đời sống thường nhật.

Nếu xét theo tiến trình vận hành của tâm thức thì hành động thực hiện năm giới không mang tính đạo đức thuần túy như nhiều người thường nghĩ. Khi chưa đoạn trừ được hữu thân kiến thì cái gọi là “đạo đức” có thể có tác dụng ngược lại. Nó chỉ làm tăng thêm sự đeo bám của người Phật tử vào một cơ cấu đang cần phải chuyển đổi của chính mình.

Vì thế thọ nhận và thực hành năm giới không nhắm đến hình thành một nhân cách đạo đức mà là làm yếu liệt sự đeo bám vào một nhân cách như thế. Chẳng hạn khi phát nguyện không sát sinh thì người Phật tử không chỉ quyết định không làm tổn hại đến chúng sinh khác mà còn từ chối tăng trưởng thân xác mình bằng chính máu thịt của chúng sinh khác.

Đối với các hành động còn lại cũng như thế: chúng đều có tác dụng hỗ trợ Phật tử chặn đứng sự tích lũy cho bản thân, sự thỏa mãn các cảm giác bệnh hoạn, sự đắm chìm trong các ảo tưởng về mình cũng như người khác, và sự mê muội được tạo ra bởi các chất kích thích.

Khi được thực hiện với một nhận thức như thế, năm giới không còn mang tính chất thưởng - phạt, phước - tội mà chúng đã trở thành những điều kiện tích cực trong việc thúc đẩy Phật tử càng ngày càng tiến nhanh hơn trong nỗ lực tu tập của mình.

Bởi vì một điều hiển nhiên là Phật tử càng ngày sẽ cảm thấy càng “nhẹ” dần đi khi trút bỏ được những gánh nặng mà mình đã ôm ấp bấy lâu. Nếu có cái gì đó gọi là “pháp lạc” trong đời sống của một Phật tử thì có lẽ đây mới đúng là ý nghĩa chân chánh của từ ngữ này vì nó rất gần với ý nghĩa đầu tiên của Niết-bàn, một trạng thái xả bỏ và tĩnh lặng tuyệt đối.

Khi “hữu thân kiến” không còn được liên tục nuôi dưỡng bằng những ảo giác và ảo tưởng về một sự tăng trưởng nào đó của tự thân thì tác động của chính nó đối với các trạng thái tâm khác, nhất là đối với sự vận hành của cetana, cũng sẽ dần dần trở nên yếu liệt.

Một khi không còn bị thúc đẩy mạnh mẽ bởi loại tà kiến như thế, cetana sẽ là động cơ tốt của ý, ngữ và thân. Đây là những chuyển đổi đầu tiên Phật tử có thể cảm nhận được mà không sợ bị rơi vào ảo giác về một thành tựu nào đó vì cái “sở đắc” ở đây không gì khác hơn một cái dấu trừ to tướng nhưng lại là điều kiện cần thiết để người Phật tử chuẩn bị khai thác các năng lực thuận lợi khác của chính mình trong việc thực hiện những hành động tích cực hơn tiếp theo.

Có thể có người sẽ cho rằng việc qui y Tam bảo và thực hành năm giới của một Phật tử theo cách trên quá thụ động, bởi vì người ta khó có thể tìm thấy một tác động cụ thể nào đó trong những hoạt động như thế đối với tự thân cũng như cộng đồng xung quanh.

Đây là một nhận xét không chính xác mặc dù những gì nó mô tả đều đúng. Khi chưa đủ sức để tạo ra một sự chuyển hóa đúng pháp đối với tự thân cũng như người khác thì im lặng và thụ động là hình thức tích cực nhất của người Phật tử khi họ từ chối góp phần vào việc làm xáo trộn thêm tự thân và thế giới bằng những tham vọng vô minh của chính mình.

Trên bình diện quy ước, dĩ nhiên người ta khó có thể chấp nhận một con số không lại được xem như là thành tựu đầu tiên trong những nỗ lực của một con người. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng Phật giáo là những gợi ý về một sự chuyển đổi cơ cấu tồn tại chúng ta chứ không phải là một món hàng cần tiếp thị.

Thật không may mắn khi chúng ta đang phải sống trong một thời kỳ mà sự quảng cáo và mua bán hàng hóa đang càng ngày càng chiếm ngự hầu hết đời sống thường nhật của chúng ta. Trước tình cảnh đó, có người - nhất là những người đang phải sống nhờ vào Phật giáo―sợ rằng cuộc sống của mình có thể bị ảnh hưởng nếu như Phật giáo trở thành một mặt hàng lỗi thời, ế ẩm. 

Vì thế mà họ thường ra sức quảng cáo cho Phật giáo, thậm chí còn cố gán cho Phật giáo nhiều loại “chất lượng” mà Phật giáo vốn chẳng có. Chúng ta nên nhớ rằng Phật giáo tồn tại là vì con người.

Một ngày nào đó, nếu con người không còn đủ sức áp dụng những gì đức Phật giảng dạy để thăng hoa đời sống của chính mình mà đành phải lặng chết trong bóng tối của vô minh và phiền não, thì đó cũng là lúc Phật giáo biến mất khỏi cộng đồng loài người.

Sự thật này nói lên điều gì? Nếu chúng ta biết tri ân Phật giáo và biết rõ Phật giáo là phương cách giải quyết hữu hiệu nhất trước sự điên loạn của con người thời đại thì chúng ta hãy nên thành thật với chính mình trước tiên.

Chúng ta có thật sự xem Phật pháp như là dòng nước đối với những người đang chết khát trên sa mạc hay chỉ là một sản phẩm loại sang trong số quá nhiều hàng hóa đang được tích tập chung quanh chúng ta?

Khi chướng ngại vô minh và phiền não chưa được quét sạch trong tâm tưởng chúng ta thì “ái ngữ” chỉ là ỷ ngữ, “an lạc” chỉ là chiếc bóng của khổ đau, “tỉnh giác” chỉ là bộ mặt của sợ hãi, v.v...

Chúng ta không phải mất thì giờ vào những công việc vô bổ như đi hô hào “chấn hưng Phật giáo,” “canh tân Phật giáo”, v.v... Tự thân Phật giáo không mong đợi con người thời đại chúng ta làm việc đó. Giá trị của nó đã được khẳng định từ lâu trong lịch sử văn minh nhân loại. Và sứ mệnh của những người biết tri ân Phật giáo là nỗ lực thể hiện nội dung đặc thù của nó bằng những thành tựu thật sự trong quá trình tu chứng chứ không phải bằng hành động “diệt chủng” nó bằng cách biến thể nó để thỏa mãn những đòi hỏi vô minh của chính chúng ta.

Trong lịch sử phát triển của Phật giáo, kể từ khi cuộc vận động của Phật giáo Đại thừa thành công trong việc lôi kéo được cốt tủy của Phật giáo ra khỏi cái vỏ bọc của triết học kinh viện thì mọi lo sợ về một viễn ảnh suy tàn nào đó được xem như đã kết thúc.

Phật giáo không còn là cái cần phải “đánh bóng” hay “làm mới” bởi vì nó đã trở thành sức sống của hàng triệu triệu người không chỉ ở Á châu mà đã ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Như vậy, chúng ta sẽ phải làm gì để tri ân đức Phật?

Đạo Sinh (Theo Hoằng Pháp)

 

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn