|
Cụ ngoại vợ tôi là thầy đồ nho dạy học ở vùng Việt Trì, Phù Ninh. Cụ Đỗ Mộng Khương người làng Lâu Thượng là học trò cụ ngoại, đi thi đỗ cử nhân Hán học khoa cuối cùng của triều Nguyễn.
 |
| Lăng Vua Hùng |
Quan huyện Hạc Trì, hào lý chức dịch địa phương, thân bằng cố hữu từ Việt Trì thành một đoàn người có cờ xí lính tráng dao mác trang nghiêm đưa vị quan tân khoa về quán Chín gian ở đê Lâu Thượng để vinh quy bái tổ.
Lễ bái tổ sẽ được diễn ra ở đình Lâu Thượng để cáo Thành Hoàng làng rồi sau đó là ở nhà thờ Tổ họ Đỗ.
Đến quán Chín gian quan huyện, lính tráng cùng cờ xí dao mác được thu hồi. Họ trở về huyện đường. Từ đây có cụ đồ nơi nhà ngoại tôi lên ngồi xe tay đi đầu. Tiếp đến là xe tay chở cụ cố, bố vị quan tân khoa. Hai xe đi đầu được che lọng đen. Xe thứ ba chở cụ Đỗ Mộng Khương, quan tân khoa được che lọng vàng. Ba xe dẫn đầu đoàn lên nhà ngoại tôi ở Dữu Lâu để vinh quy bái Tổ.
Ở đây vị quan tân khoa mời thầy đồ thay bộ quần áo gấm cùng khăn giày mũ mãng mới sắm sẵn từ kinh đem về biếu thầy mặc để vào chiếu lễ vinh quy bái tổ.
Vinh qua bái tổ là một nghi thức trọng thể bắt buộc đối với các vị tân khoa. Nhờ nghi thức này mà con người đề cao đạo lý tôn sư trọng đạo. Có tôn kính thầy mới trọng đạo học.
Triều đình sẽ xử tội nặng với những người phạm vào lệ vinh quy bái Tổ.
Trạng nguyên Vũ Duệ người làng Trịnh Xá - Lâm Thao vốn con nhà nghèo, mồ côi nhưng thông minh, chỉ học lỏm mà thông thạo kinh sách thánh hiền. Làm trẻ mục đồng nhưng Vũ Duệ luôn làm bài hộ Nguyễn Mẫn Đốc sau đỗ bảng nhãn, người làng Xuân Lũng và Nguyễn Như Thức, người làng Cao Xá sau đỗ tiến sĩ.
Đốc và Thức thường rủ nhau qua Trịnh Xá để sang học thầy đồ làng Cổ Đô bên kia sông. Vì Vũ Duệ thông minh thường làm bài hộ mình đem sang nộp thày nên Đốc và Thức hứa sau này sẽ lấy đạo về tình thầy - trò để đối đãi với Vũ Duệ. Dân gian trong vùng còn kể nhiều truyện cảm động về tình thầy trò của họ. Khoa thi sau đó cả ba người đều được về kinh ứng thí.
Vũ Duệ đỗ Trạng nguyên. Nguyễn Mẫn Đốc đỗ bảng nhãn, còn gọi là bảng Dòng (quan Bảng làng Dòng) và Nguyễn Như Thức đỗ tiến sĩ được gọi là quan Thám vì ông có dáng đi đẹp như hoa nở, được vua gọi là Thám hoa. Ba người trên nay vẫn có tên trong bảng vàng khoa cử Việt Nam.
Khi Vũ Duệ đỗ trạng về bị thầy đồ làng Cổ Đô kiện về triều đình tội bội sự vì không vinh quy bái tổ nhà thầy. Chứng cứ đem kiện là bút tích các bài văn của Vũ Duệ do Thức và Đốc nộp trước đây ở nhà thầy. Phải đợi triều đình cho quan về tra xét ra ngọn ngành Vũ Duệ mới thoát tội và được phong chức quan làm việc ở cận kề nhà vua.
Về làm rể nhà ngoại tôi mới gặp và quen biết ông Đỗ Hồng Bào, giáo viên cấp III là cháu cụ Đỗ Mộng Khương. Khi xưa cụ Khương quý ông Bào, thường cho cắp tráp theo mình mỗi khi đi lễ tết thăm hỏi cụ đồ. Do tình thâm ấy mà sau này bố vợ tôi với ông Bào thân nhau như anh em ruột, sống tết chết giỗ nhà nhau. Có tấm mía, nải chuối mới thu ở vườn nhà, hai người đều nhớ đến nhau. Tình cảm ấy có được là nhờ ở truyền thống tôn sư trọng đạo từ các cụ trước để lại cho đời hai ông và con cháu sau này.
Các truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, trọng lão hay truyền thống yêu nước thương nòi, sống cần cù giản dị, sống mình vì mọi người... có được là nhờ ở bản sắc văn hóa của người Việt tạo ra.
Dân ta sống bằng nghề làm lúa nước, ở co cụm trên các gò đất cao, rào giậu luỹ tre, sống yên ấm trong mỗi xóm làng tạo nên văn hóa làng xã với mối cố kết cộng đồng bền chặt. Cộng đồng bao gồm trước hết là đồng tông của những người cùng huyết thống gắn bó trong một tổ chức là họ mạc. Rồi đồng hương; những người cùng xóm ngõ kết phe phái để đùm bọc nhau, tối lửa tắt đèn có nhau. Làng cổ xưa có xóm ngõ là đơn vị tụ cư và hành chính bền chặt làm cho làng xã bền chặt hơn. Đồng nghiệp là những người cùng làm một nghề ở trong làng liên kết với nhau trong các tổ chức phường nghề để giúp đỡ nhau trong công việc làm ăn sinh sống, sinh hoạt như phường mộc, phường nề, phường cá con, phường buôn trâu, phường chèo... Vì thế mới có câu "buôn có bạn, bán có phường". Đồng tuế là tổ chức của những người cùng tuổi ở trong làng. Đến đồng môn là tổ chức của những người cùng học một thầy. Nhờ có hội đồng môn đứng ra tổ chức để học sinh đóng góp lo liệu mọi công việc nhà thầy từ lễ tết đến cưới xin ma chay. Qua đó đạo lý tôn sư trọng đạo mới đề cao. Truyền thống hiếu học mới phát huy. Các làng Việt xưa đều có trích phần ruộng đất công gọi là học điền để có hoa lợi lo xây dựng trường sở và nuôi thầy. Học điền là một minh chứng về sự chăm lo giáo dục của xã hội truyền thống Việt Nam. Cũng nhờ vào học điền mà các ông đồ được đề cao. Đạo lý tôn sư trọng đạo được vun đắp.
Việc lễ tết nhà thầy xưa rất được coi trọng. "Mồng một tết cha, mồng hai tết vãi, mồng ba tết thầy". Thầy giáo xưa được người đời coi trọng như cha mẹ đôi bên mà dịp tết học trò bắt buộc phải đi lễ như đi lễ cha mẹ mình và cha mẹ vợ.
Dân gian có câu ca "muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy" cũng là để nhắc nhở nhau về đạo lý tôn sư trọng đạo.
Làng Việt xưa dù to hay nhỏ đều xây văn chỉ (đài lộ thiên) hoặc từ chỉ (nhà có mái che) để thờ Khổng Tử, thánh sư đạo nho. Trong đó còn đặt bài vị thờ các vị tiên hiền có thể là những người khởi xướng lên sự học cho dân làng. Hàng năm hội tư văn (tổ chức cao nhất bậc quan lại, học vấn ở làng) tổ chức tế lễ ở văn chỉ từ chỉ. Nhờ tín ngưỡng này được duy trì từ đời này sang đời khác mà đạo lý tôn sư trọng đạo được đề cao. Các vị khao bảng có công với triều đình và đất nước khi hóa thì được nhà vua phong sắc cho lập đền thờ ở hàng quốc tế hoặc dân xã thờ cúng. Nay vẫn còn các đền thờ trạng nguyên Vũ Duệ ở Trịnh Xá, đền thờ Nguyễn Mẫn Đốc ở Xuân Lũng, đền quan bảng Trần Tụy ở Phượng Lâu, đền nghè thờ tiến sĩ Hàn Thuyên ở Vĩnh Trân...
|
| Thiên cổ miếu thờ thầy giáo Vũ Thê Lang |
Ở làng Lâu Thượng có một thầy đồ người Thanh Hóa ra dạy học, hóa vào giờ thiêng được dân làng tôn làm Thành Hoàng thờ ở đình Nội cùng một số thần hoàng khác. Ở một xóm của Việt Trì, khi lập làng người ta còn dựng miếu thờ vị thần trong truyền thuyết là Vũ Thế Lang làm thầy dạy học từ thời Hùng Vương.
Nhờ có tín ngưỡng thờ thánh sư đạo học trên và những vị khoa bảng mà truyền thống hiếu học đạo lý tôn sư trọng đạo mới được đề cao.
Để cho tín ngưỡng này mất đi sẽ là một tổn thất lớn về giáo dục đạo đức nhân cách của cộng đồng nói chung và đạo lý tôn sư trọng đạo nói riêng. Mất đi đạo lý tôn sư trọng đạo sẽ làm băng hoại cả đạo đức của dân tộc và làm cho xã hội rối loạn theo. Các làng Việt truyền thống rất đề cao đạo học, tôn vinh người có học. Hầu hết các bản hương ước của các làng Việt xưa đều có các điều khoản quy định về học hành. Trong đó ghi cụ thể chiếu ngồi cho từng bậc học cao thấp khác nhau ở làng Xuân Lũng, Cao Xá, Thạch Cáp ghi rõ trong hương ước: Chiếu nhất ở đình làng chỉ dành riêng cho người đỗ đạt cao nhất từ cống, cử nhân lên tiến sĩ. Người đỗ cao, tuổi tác ngồi trên. Phần biếu đưa về nhà nhiều hơn hạng chức dịch và dân đinh trong làng.
Để có được đạo lý tôn sư trọng đạo cha ông ta đã phải dày công vun đắp từ các quy định của triều đình đến tục lệ của xóm làng qua nhiều đời nhiều thế hệ ngấm dần vào máu thịt, tiềm thức mỗi người để làm nên giá trị truyền thống.
Muốn phát huy được đạo lý ấy không thể dựa vào khẩu hiệu xuông hoặc ý muốn chủ quan duy ý chí mà phải biết phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nghĩa là phải học theo cách làm của cha ông như mấy dẫn chứng trên.
|